logo

Hành vi mượn nợ rồi bỏ trốn sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

  • LS. Hùng Sơn |
  • 27-12-2019 |
  • Tư vấn luật Hình sự , |
  • 10270 Lượt xem

Xin chào Luật sư, tôi có một vấn đề thắc mắc cần được Luật sư giải đáp cho tôi cụ thể như sau: Tôi có cho một người hàng xóm vay số tiền là 200 triệu đồng và lãi suất vừa phải theo quy định. Nhưng hiện tại người hàng xóm ấy đã bỏ trốn và không trả nợ cho tôi số tiền ấy, bà ấy chưa hề trả cho tôi một số tiền nào vì chưa đến hạn là bà ấy đã bỏ trốn và bà ấy cũng mượn nợ rồi bỏ trốn của nhiều người khác nữa. Vậy Luật sư cho tôi hỏi việc bà hàng xóm nhà tôi có hành vi mượn nợ rồi bỏ trốn có bị pháp luật xử lý không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Hùng Sơn, về vấn đề một người có hành vi mượn nợ rồi bỏ trốn chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung năm 2017.

mượn nợ rồi bỏ trốn

2. Giải quyết vấn đề đối với hành vi mượn nợ rồi bỏ trốn:

♦ Về nghĩa vụ của bên vay tiền trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền phải đúng hạn, nếu như có sự thỏa thuận về lãi suất thì bên vay phải trả đủ số lãi đã thỏa thuận khi đến hạn. Và nếu như khi đã quá thời hạn đã thỏa thuận mà bên vay không có thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì hai bên có thể thỏa thuận lại về việc gia hạn thêm thời hạn để trả nợ, hoặc có thể thỏa thuận về số tiền chậm trả hoặc lãi suất quá hạn đúng theo quy định của pháp luật.

♦ Trong trường hợp người hàng xóm của bạn vay tiền rồi bỏ trốn có thể chia thành hai trường hợp để có thể căn cứ vào đó truy cứu trách nhiệm hình sự về đúng tội:

– Trường hợp 1: Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có thể người hàng xóm của bạn đã có ý định bỏ trốn ngay từ ban đầu và đã có những hành vi dụ dỗ hoặc dùng những thủ đoạn gian dối với bạn để có thể chiếm đoạt số tài sản ấy rồi bỏ trốn, vì vậy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản căn cứ theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

+ Vì số tiền bạn đã cho người hàng xóm vay 200 triệu, nên có thể bị phạt tù từ 7 năm cho đến 15 năm do hành vi chiếm đoạt số tài sản bất hợp pháp và có giá trị từ 200 triệu đồng cho đến 500 triệu đồng.

+ Ngoài ra thì người mà phạm tội này còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung cụ thể là bị phạt tiền với mức phạt từ 10 triệu đồng cho đến 100 triệu đồng; hoặc bị cấm làm công việc nhất định hoặc có thể bị cấm hành nghề với thời gian từ 1 năm cho đến 5 năm; bị phạt bổ sung tịch thu một phần hoặc là toàn bộ tài sản.

– Trường hợp 2: Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Khác với trường hợp trên là đã có ý định bỏ trốn ngay từ ban đầu để chiếm đoạt số tài sản ấy, trường hợp này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể hiểu là khi bên vay tiền có một trong những hành vi sau đây: đến khi tới hạn trả nợ dù có khả năng để thực hiện việc trả nợ nhưng lại cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ; dùng các thủ đoạn gian dối hoặc cố tình bỏ trốn luôn để chiếm đoạt số tài sản ấy; có hành vi sử dụng số tiền đã vay mượn vào các mục đích không hợp pháp khác rồi dẫn đến không có khả năng trả nợ. Vì vậy hình phạt có thể áp dụng đối với người hàng xóm đó căn cứ theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

+ Vì số tiền mà người hàng xóm ấy vay rồi không trả cho bạn là 200 triệu đồng nên có thể bị phạt tù với mức phạt từ 5 năm cho đến 12 năm do hành vi chiếm đoạt số tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng cho đến 500 triệu đồng.

+ Và ngoài ra thì người phạm tội theo quy định này còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung cụ thể là bị phạt tiền với số tiền từ 10 triệu đồng cho đến không quá mức 100 triệu đồng; bị cấm làm một công việc nhất định hoặc là bị cấm hành nghề với thời gian từ 1 năm cho đến 5 năm; hoặc còn có thể bị tịch thu một phần hay là toàn bộ tài sản của người vi phạm.

Trên đây là những tư vấn của Công ty Luật Hùng Sơn về vấn đề hành vi mượn nợ rồi bỏ trốn, tùy theo tính chất và mức độ mà người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu như vẫn còn thắc mắc về vấn đề này hoặc các vấn đề khác có liên quan, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn chi tiết.

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


    Có thể bạn quan tâm

    Video tư vấn pháp luật

    Hotline
    Top