Đánh người để đòi nợ phạm tội gì?

Đánh người để đòi nợ là một thực tế diễn ra khá phổ biến hiện nay. Do tính chất nguy hiểm của hành vi gây ra cho xã hội là rất lớn nên hành vi đánh người để đòi nợ được pháp luật điều chỉnh một cách chặt chẽ. Trong phạm vi bài viết dưới đây, công ty Luật Hùng Sơn sẽ cung cấp thông tin tới quý bạn đọc về các vấn đề liên quan đến loại tội phạm này.

1. Đánh người để đòi nợ là gì? 

Đánh người là một hành vi gây ra nguy hiểm cho xã hội và là hành vi xâm phạm đến quyền bảo vệ sức khỏe, bảo vệ tính mạng của người khác được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, dù việc đánh người được thực hiện với bất kỳ mục đích nào thì việc cố ý đánh người đều bị pháp luật xử lý. 


Đánh người để đòi nợ là việc sử dụng các hình thức bạo lực, côn đồ hoặc sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau để có thể đòi được nợ. Việc đánh người để đòi nợ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, đến sức khỏe, thậm chí là ảnh hưởng đến tính mạng của con nợ.

đánh người để đòi nợ

2. Đánh người để đòi nợ phạm tội gì? Mức hình phạt như thế nào?

Thông thường, nếu đánh người và để lại thương tích cho người khác, người vi phạm sẽ bị phạt hành chính từ hai triệu đồng đến ba triệu đồng (theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự với mức phạt tùy theo tỷ lệ thương tích gây ra. Tuy nhiên, nếu không đơn thuần chỉ đánh người để đòi nợ mà đồng thời hành vi đánh người còn kèm theo đe dọa, ép buộc hoặc trực tiếp lấy tài sản của người vay để trừ nợ thì hành vi đánh người để đòi nợ này còn có thể cấu thành Tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015. Chi tiết như sau:

2.1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Hành vi đánh người để đòi nợ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với cấu thành tội phạm như sau:

  • Thứ nhất, về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội này là người có lỗi trong việc cố ý thực hiện hành vi đánh người gây thương tích hoặc gây ra tổn hại cho sức khỏe người khác. Đồng thời, người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự và phải đủ độ tuổi để có thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS.

  • Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo hộ.

  • Mặt khách quan của tội phạm

Người đòi nợ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác tác động lên cơ thể của người khác. Hậu quả của tội này được thể hiện ở tỷ lệ thương tật của nạn nhân.

  • Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của người khác.

Tùy vào mức độ và tính chất của hành vi phạm tội mà khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác sẽ có sự khác nhau. Cụ thể như sau:

– Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% – 30% hoặc dưới 11% nhưng lại thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, dùng vật liệu nổ, dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại đến nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc dùng hóa chất nguy hiểm;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe đối với người dưới 16 tuổi, đối với phụ nữ mà biết là có thai, đối với người già yếu, ốm đau hoặc đối với người khác không có khả năng tự vệ;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe đối với ông, bà, cha, mẹ, đối với thầy giáo, cô giáo của mình, đối với người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Thực hiện tội phạm này có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội;

g) Phạm tội trong thời gian đang bị giữ, bị tạm giữ, bị tạm giam, trong thời gian đang chấp hành án phạt tù, chấp hành các biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc phạm tội trong thời gian đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê người khác gây thương tích hoặc thuê gây ra tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác do được thuê;

i) phạm tội có tính chất côn đồ;

k) Phạm tội đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ 02 – 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % – 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội hai lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương của cơ thể người đó là từ 11% – 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 Điều này.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương của cơ thể 61% trở lên và không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 của Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% – 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương của cơ thể từ 31% – 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm  a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11%-  30% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm  a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 của Điều này.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ 07 – 14 năm:

a) Hậu quả của hành vi phạm tội làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương của cơ thể là 61% trở lên nhưng lại thuộc 01 trong các trường hợp được quy định tại các điểm  a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của hai người trở lên với tỷ lệ tổn thương của cơ thể mỗi người là từ 31% – 60% nhưng thuộc 01 trong các trường hợp được quy định tại các điểm a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 Điều này.

– Phạm tội thuộc 01 trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm hoặc bị phạt tù chung thân:

a) Hành vi phạm tội làm chết hai người trở lên;

b) Gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của hai người trở lên với tỷ lệ tổn thương của cơ thể mỗi người là 61% trở lên nhưng lại thuộc 01 trong các trường hợp được quy định tại các điểm  a,b,c,d,đ,e,g,h,i,k khoản 1 Điều này.

– Người nào chuẩn bị vũ khí, chuẩn bị vật liệu nổ, chuẩn bị hung khí nguy hiểm, chuẩn bị a-xít nguy hiểm, chuẩn bị hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập/tham gia nhóm tội phạm với mục đích nhằm gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2.2: Tội cướp tài sản

Hành vi đánh người để đòi nợ có thể phạm tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

– Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có các hành vi khác làm cho người bị tấn công rơi vào tình trạng không thể chống cự được nhằm  mục đích chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba đến mười năm.

-Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ bảy đến mười lăm năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khoẻ của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là từ 11% – 30%;

d) Sử dụng vũ khí, sử dụng phương tiện hoặc sử dụng các thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá từ 50.000.000 VNĐ đến dưới 200.000.000 VNĐ;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai, phạm tội đối với người già yếu hoặc phạm tội đối với người không có khả năng tự vệ;

g) Hành vi phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và  an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 200.000.000 VNĐ đến dưới 500.000.000 VNĐ;

b) Gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khoẻ của người khác với tỷ lệ tổn thương của cơ thể là từ 31% – 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để phạm tội.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được liệt kê sau đây, thì bị phạt tù từ 18 – 20 năm hoặc bị phạt tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị 500.000.000 VNĐ trở lên;

b) Gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khoẻ của một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên hoặc gây ra thương tích hoặc gây ra tổn hại tới sức khoẻ của hai người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 31% trở lên;

c) Hành vi phạm tội làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp để thực hiện hành vi phạm tội.

– Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 – 05 năm.

– Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 VNĐ- 100.000.000 VNĐ, bị phạt quản chế, bị cấm cư trú từ 01 – 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, nếu bị xử lý về Tội cướp tài sản, thì tùy thuộc vào mức độ vi phạm mà người phạm tội này có thể bị phạt tù đến 20 năm hoặc bị phạt tù chung thân. 

Việc quyết định tội phạm và hình phạt áp dụng sẽ do Tòa cân nhắc quyết định dựa trên các tình tiết, chứng cứ đã được cơ quan điều tra xác minh.

3. Thuê người khác đánh người để đòi nợ, chủ nợ có phạm tội không?

Để đòi được nợ, nhiều người đã thuê các đối tượng xấu đến gây rối, đến đe dọa, đập phá đồ đặc hoặc thậm chí là đến đánh người mà không màng đến các quy định của pháp luật và đạo đức của xã hội. Đây đều là những hành vi trái pháp luật và có thể sẽ bị phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu vi phạm đến mức xử lý hình sự, căn cứ Điều 17 của Bộ luật Hình sự 2015, không chỉ các đối tượng người được thuê trực tiếp thực hiện hành vi đánh người đòi nợ trái pháp luật mà người đi thuê cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm.

Theo quy định này thì đồng phạm là trường hợp có 02 người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.

  • Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.
  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện hành vi phạm tội.
  • Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ và thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội.
  • Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc điều kiện vật chất cho người khác thực hiện hành vi phạm tội.

Theo nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự thì tất cả những người đồng phạm phải phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ tội phạm đã gây ra. Do đó, nếu thuê người khác đánh người để đòi nợ, chủ nợ sẽ trở thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.

4. Những điều cần biết để đòi nợ đúng pháp luật

Để không vi phạm các quy định của pháp luật, chủ nợ không nên trực tiếp thực hiện hoặc gián tiếp thuê người khác thực hiện các hành vi đòi nợ cực đoan như đánh người hay gây ảnh hưởng đến danh dự, đến nhân phẩm, đến sức khỏe và tính mạng của người vay nợ cũng như người thân của họ.

Nếu hết thời hạn cho vay mà bên vay vẫn chưa trả nợ cho mình, chủ nợ hoàn toàn có thể khởi kiện ra tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Khi người vay dùng những thủ đoạn gian dối để cố tình chiếm đoạt số tiền đã vay thì chủ nợ cũng có thể gửi đơn tố giác tội phạm đến cơ quan công an điều tra.

Theo đó, theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì việc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự đó. Như vậy, Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu đòi nợ của chủ nợ trong quá trình xử lý hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản của người vay.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề đánh người để đòi nợ. Trường hợp Quý bạn đọc còn bất cứ thắc mắc cần tư vấn luật hình sự hoặc cần thuê luật sư bào chữa về các tội phạm, hãy liên hệ tới Công ty Luật Hùng Sơn qua hotline 19006518 để được các chuyên viên, luật sư của chúng tôi tư vấn, giải đáp chi tiết nhất. Trân trọng.

Ls. Luyện Ngọc Hùng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn