Rút đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự, thủ tục như nào?

Đơn khởi kiện là gì? Rút đơn khởi kiện có bị kiện lại hay không? Thủ tục rút đơn khởi kiện trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm ra sao? Tất cả sẽ được Luật Hùng Sơn lý giải ở bài viết dưới đây!

Rút đơn khởi kiện là gì

Đơn khởi kiện là văn bản, trong đó bên đương sự yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại.

Trong tố tụng hình sự, đơn khởi kiện được sử dụng với nghĩa là yêu cầu của những người bị hại về việc khởi tố vụ án hình sự để có thể bảo vệ lợi ích của mình bị tội phạm xâm hại,

Trong tố tụng dân sự, đơn khởi kiện là một trong các cách thức để đương sự yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền lợi cho mình. Theo đó, pháp luật yêu cầu đơn khởi kiện cần phải chứa đựng các thông tin cần thiết như là ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên của Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên và địa chỉ của người khởi kiện; tên và địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu như có; tên và địa chỉ của người bị kiện; tên và địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu như có; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết đối với bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan; họ, tên và địa chỉ của người làm chứng, nếu như có; tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có các căn cứ và hợp pháp; những thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án; những người khởi kiện là cá nhân phải kí tên hoặc điểm chỉ; nếu như cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó cần phải kí tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

rút đơn khởi kiện trong luật tố tụng dân sự

Rút đơn khởi kiện có được khởi kiện lại không?

Trong khi thực hiện thủ tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân các vụ án dân sự, có 1 số trường hợp vì một vài lý do nào đó như vì muốn họp gia đình, mong muốn bổ sung hồ sơ, tìm thêm chứng cứ,…mà những người khởi kiện đã rút đơn khởi kiện lại. Mặc dù vậy, không phải trong mọi trường hợp khi những người khởi kiện rút hồ sơ khởi kiện thì đều được kiện lại cũng như được Tòa án thụ lý giải quyết, mà theo quy định của pháp luật thì chỉ trong 1 số trường hợp khi rút đơn khởi kiện bên đương sự mới được kiện lại.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn trong Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về việc hướng dẫn 1 số quy định tại khoản 1 và khoản 3, Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về việc trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ, sẽ có 6 trường hợp đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại đó là:

  1. Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện với lý do những người khởi kiện rút đơn khởi kiện hay Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt (căn cứ theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 217 BLTTDS năm 2015).

Theo khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015: “ Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

  1. Tòa án đã bác bỏ (không chấp nhận) yêu cầu ly hôn, yêu cầu về việc thay đổi nuôi con, thay đổi mức độ cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi những người quản lý tài sản, thay đổi đối tượng quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hay vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, mượn, cho ở nhờ.
  2. Người khởi kiện đã có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
  3. Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện do những người khởi kiện không được sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu của Thẩm phán bởi trong đơn khởi kiện những người khởi kiện đã không ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (theo quy định trong khoản 1 Điều 192 BLTTDS) hay Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án đối với lý do người khởi kiện không cung cấp đầy đủ và đúng với địa chỉ cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của đối tượng bị kiện, những người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan (căn cứ theo Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP) tuy nhiên nay đối tượng khởi kiện đã cung cấp được đầy đủ và đúng theo địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  4. Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện hay những vụ án Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi kiện nhưng chưa có đủ điều kiện khởi kiện tuy nhiên hiện nay người khởi kiện đã có đầy đủ điều kiện để khởi kiện. Mặc dù chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật thuộc trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, quy định của pháp luật khác về các điều kiện để cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của Nhà nước những đối tượng khởi kiện đã tiến hành khởi kiện đến Tòa án nhân dân khi còn thiếu 1 trong các điều kiện đó (theo Điều 187 BLTTDS năm 2015).
  5. Những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước thời hạn 1/1/2017, Tòa án nhân dân đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cũng như trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện để khởi kiện chia tài sản chung, tuy nhiên thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với các di sản thừa kế đó vẫn còn trong vòng 30 năm đối với bất động sản, 10 năm với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, chỉ trong 6 trường hợp trên thì người khởi kiện sẽ được quyền kiện lại và được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết lại từ đầu.

3. Ai có quyền rút đơn khởi kiện?

Cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ có quyền tự mình hoặc thông qua đối tượng đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây được gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của mình.

Thủ tục rút đơn khởi kiện như thế nào?

Thủ tục rút yêu cầu khởi kiện được quy định chi tiết trong các giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, được quy định như sau: Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp xét thấy yêu cầu rút đơn của những người khởi kiện tại điểm g, khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vì vậy, trước khi thụ lý vụ kiện mà đối tượng khởi kiện rút đơn thì được trả lại đơn và Thẩm phán được phân công thực hiện.
  • Giai đoạn sau khi Tòa án nhân dân đã thụ lý vụ án, việc đối tượng khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của bên đương sự sẽ được Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ vụ án dựa theo Điểm c, khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Giai đoạn đang xét xử sơ thẩm thì Bộ luật tố tụng dân sự sẽ quy định cụ thể như sau: “Nếu có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình cũng như việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành đình chỉ xét xử đối phần yêu cầu hay toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút (theo khoản 2 Điều 244 BLTTDS).
  • Giai đoạn trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hay tại phiên tòa phúc thẩm thì khi bên nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử cần phải hỏi bị đơn và trong trường hợp bị đơn đồng ý thì Hội đồng xét xử sẽ đưa ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án (theo điểm b, khoản 1 Điều 299 BLTTDS). Lúc này, tại khoản 2 Điều 299 BLTTDS có quy định là bên nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án (căn cứ theo thủ tục chung do BLTTDS quy định).

Qua các trường hợp nêu trên, chúng ta có thể thấy chỉ 1 hành vi rút đơn khởi kiện, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn khác nhau của vụ án thì BLTTDS sẽ có quy định khác nhau tương ứng với từng trường hợp cụ thể.

Tòa án sẽ giải quyết như thế nào nếu có người khởi kiện rút đơn khởi kiện?

Khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước phiên tòa sơ thẩm dân sự thì:

  • Nếu không có yêu cầu phản tố cũng như yêu cầu độc lập thi Tòa án nhân dân chấp nhận việc rút đơn khởi kiện, đưa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
  • Đối tượng khởi kiện rút đơn khởi kiện tuy nhiên bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố đồng thời người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án nhân dân sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự khi yêu cầu của người khởi kiện đã rút.
  • Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bên bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, tuy nhiên người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của đối tượng khởi kiện và yêu cầu phản tố của bị đơn đã rút.
  • Những người khởi kiện rút đơn khởi kiện, đối tượng có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan sẽ rút toàn bộ yêu cầu độc lập tuy nhiên bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án nhân dân sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp yêu cầu của người khởi kiện cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền, lợi ích liên quan đã rút.
  • Đối tượng khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bên bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tới việc rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án nhân dân sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án dân sự.

Qua nội dung bài viết trên, chắc hẳn các bạn đã biết rút đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự là gì, thủ tục như nào? Đừng quên theo dõi các bài viết sau của Luật Hùng Sơn nếu muốn biết thêm về đơn khởi kiện nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
Ls. Luyện Ngọc Hùng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn