logo

Giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại

  • Luật Hùng Sơn 1 |
  • 01-08-2020 |
  • Tư vấn luật Dân sự , |
  • 1013 Lượt xem

Thời gian gần đây, hiện tượng giả danh ngân hàng để lừa đảo qua điện thoại trở thành một vấn nạn nhức nhối và phổ biến trong xã hội. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật mà rất nhiều người trở thành nạn nhân của tội phạm lừa đảo tinh vi này. Nhằm cung cấp những kiến thức cần thiết để bạn có thể nhận biết và phòng tránh trường hợp này, bài viết dưới đây Luật Hùng Sơn sẽ tư vấn cụ thể về loại tội phạm này và phương thức xử lý khi không may rơi vào hoàn cảnh đó.

Phương thức giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại mà kẻ gian thường sử dụng

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, bên cạnh những ưu điểm thì cũng là điều kiện để tội phạm lừa đảo thực hiện những hành vi gian dối tinh vi hơn, lợi dụng lòng tin của khách hàng, giả danh ngân hàng để lừa đảo qua điện thoại. Một số cách thức phổ biến mà tội phạm thường sử dụng để phạm tội như:

Tội phạm giả danh nhân viên ngân hàng, tiến hành gọi điện cho khách hàng và giới thiệu một số chính sách ưu đãi cực lớn, dịch vụ hấp dẫn để chào mời khách hàng,… Dựa vào sự nhẹ dạ cả tin và lợi dụng điều đó, tội phạm đề nghị khách hàng cung cấp những thông tin bảo mật về tài khoản của mình, từ đó, chúng dễ dàng lấy được số tài khoản, số thẻ, thông tin thẻ, OTP, mã token,…

Tội phạm giả danh nhân viên ngân hàng, tiến hành gọi điện cho khách hàng và thông báo về các vấn đề về tài khoản của khách hàng cần xử lý ngay, khiến khách hàng cả tin mà cung cấp thông tin về tài khoản của mình.

Tội phạm giả danh nhân viên ngân hàng, gọi điện thoại và giao dịch với khách hàng, thông báo tài khoản này có người chuyển tiền đến cần xác nhận hay những lý do khác để lừa dối nhằm lấy được những thông tin bảo mật về tài khoản ngân hàng.

Sau khi lấy được những thông tin trên, nhóm tội phạm này rất tinh vi trong việc chiếm đoạt tiền, tài sản của khách hàng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: gửi link chứa mã độc, tạo website giả tạo hay các ứng dụng trên điện thoại,… để tiến hành lấy thông tin triệt để và thực hiện việc chiếm đoạt tài sản thành công.

giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại

Giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại phạm tội gì?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các đối tượng giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự 2015. Bởi vì việc giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có thể có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Một là, về khách thể: hành vi giả danh ngân hàng lừa đảo đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản, đây là quan hệ xã hội chủ yếu bị hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại. Đối tượng tác động của hành vi này chính là tài sản, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản,…

Hai là, về mặt khách quan: hành vi giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có dấu hiệu hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

Hành vi lừa dối thể hiện ở hành vi cố ý giả danh nhân viên ngân hàng, gọi điện cho khách hàng rồi đưa ra thông tin không đúng sự thật, sai lệch về sự việc (như nói không thành có, ít thành nhiều, tốt thành xấu, giả thành thật,…) nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội.

Hành vi chiếm đoạt thể hiện ở hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người bị lừa thành tài sản của mình.

Theo đó, hành vi gian dối (giả danh ngân hàng gọi điện lừa đảo) và hành vi chiếm đoạt tài sản (chuyển và rút tiền trong tài khoản ngân hàng) có mối quan hệ với nhau: hành vi gian dối tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách dễ dàng.

Ba là, về chủ thể: chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không ở trong tình trạng được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015; người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với mọi trường hợp phạm tội. Do chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không có ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không có quốc tịch thực hiện hành vi lừa đảo trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp được hưởng quyền miễn trừ tư pháp thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Bốn là, về mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có lỗi cố ý, với động cơ vụ lợi (tức là người phạm tội muốn thu về mình những lợi ích vật chất) cùng với mục đích nhằm đạt được việc dịch chuyển trái phép tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác thành tài sản của mình.

Giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại bị xử lý như thế nào?

Trường hợp 1: Hành vi giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có thể bị xử lý hành chính nếu chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới 2.000.000 đồng.

Trường hợp 2: Hành vi giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, do đó, căn cứ theo dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm khi thỏa mãn một trong hai dấu hiệu sau:

+ Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

+ Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc các trường hợp sau:

+ Có tổ chức: là trường hợp đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm;

+ Có tính chất chuyên nghiệp: là trường hợp liên tiếp phạm tội và việc phạm tội trở thành nguồn thu nhập chính cho người phạm tội;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Tái phạm nguy hiểm: là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nhưng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội này hoặc đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: người phạm tội núp dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức mình là thành viên để thực hiện hành vi phạm tội;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt: là trường hợp người phạm tội sử dụng những thủ đoạn tinh vi cao hoặc có hành vi gian dối làm cho người bị hại và những người khác khó lường được để đề phòng và Cơ quan điều tra cũng khó điều tra phát hiện;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

+  Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng trở ngại do thiên tai, dịch bệnh hoặc lợi dụng những khó khăn của dịch bệnh, thiên tai gây ra để thực hiện hành vi phạm tội.

Bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu rơi vào các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp:

Bị phạt bổ sung với hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Làm gì khi bị lừa đảo qua điện thoại?

Khi nghi vấn hoặc phát hiện cá nhân, tổ chức nào thực hiện những hành vi như trên hoặc trường hợp đã bàn giao tài khoản của mình cho người khác sử dụng, bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì có thể xử lý như sau: thực hiện tố giác, báo tin về tội phạm và kiến nghị khởi tố:

Bước 1: Trực tiếp đến trình báo hoặc tố giác, báo tin qua điện thoại tới cơ quan Công an có thẩm quyền; hoặc gửi văn bản trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan Công an có thẩm quyền;

Khi tố giác, cần cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu và trình bày rõ những hiểu biết của mình liên quan đến tội phạm mà mình tố giác, báo tin.

Bước 2: Theo dõi kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

+ Nếu hết thời hạn 03 ngày kể từ ngày tố giác, mà chưa nhận được thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận thì cá nhân khởi tố có quyền yêu cầu cơ quan Công an thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

+ Nếu hết thời gian giải quyết tố giác mà chưa nhận được văn bản thông báo kết quả giải quyết thì cá nhân khởi tố có quyền đề nghị cơ quan Công an tiếp nhận thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Trên đây là tư vấn của Luật Hùng Sơn về vấn đề giả danh ngân hàng lừa đảo qua điện thoại. Nếu có thắc mắc hoặc cần hỗ trợ pháp lý thì xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.

Trân trọng./.

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


    Có thể bạn quan tâm

    Video tư vấn pháp luật

    Hotline
    Top