logo

Quy định của pháp luật về đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp hiện nay

  • Ls. Nguyễn Minh Hải |
  • 20-08-2020 |
  • Doanh nghiệp , |
  • 913 Lượt xem

Xin chào Luật sư, tôi có một vấn đề thắc mắc và cần được Luật sư hỗ trợ tư vấn giúp cho tôi cụ thể như sau: Tôi và một số người bạn hiện đang có nhu cầu được thành lập một doanh nghiệp chuyên về sản xuất các loại mỹ phẩm nhưng tôi không rõ là chúng tôi có thuộc những đối tượng có quyền được thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hiện nay hay không. Vậy Luật sư có thể tư vấn cho tôi các quy định của pháp luật về những đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp hiện nay hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Quảng cáo

I. Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi thắc mắc đến Công ty Luật Hùng Sơn, về vấn đề trên chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn cho bạn như sau.

Để có thể thành lập một doanh nghiệp hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không quy định những đối tượng nào có quyền lập doanh nghiệp mà chỉ quy định cụ thể những đối tượng không có quyền lập doanh nghiệp, những đối tượng bị hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp. Cho nên bạn đặt câu hỏi hoàn toàn có thể căn cứ vào những quy định về đối tượng không có và bị hạn chế quyền để xem xét bản thân và bạn của bạn đã đủ điều kiện thành lập công ty hay không.

1. Đối tượng không có quyền thành lập doanh nghiệp hiện nay

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì những đối tượng sau đây sẽ không có quyền thành lập doanh nghiệp:

– Cơ quan nhà nước và đơn vị vũ trang nhân dân mà sử dụng tài sản của Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh để thu lợi riêng cho chính cơ quan hoặc đơn vị của mình.

– Những cán bộ, công chức và viên chức mà theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức.

– Các sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân hoặc viên chức quốc phòng thuộc các đơn vị, cơ quan thuộc về Quân đội nhân nhân; hoặc các sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp nằm trong các đơn vị, các cơ quan mà thuộc về Công an nhân dân nhưng trừ ra những trường hợp có những người đã được sử làm đại diện theo ủy quyền để thực hiện quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở tại doanh nghiệp theo quy định.

– Những người là cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ ở trong doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để thực hiện quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở tại doanh nghiệp khác theo quy định.

– Những người chưa thành niên, người mà bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo Bộ luật Dân sự, những tổ chức mà không có tư cách pháp nhân.

– Người mà đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hay đang thực hiện chấp hành hình phạt tù hoặc chấp hành quyết định xử lý hành chính ở tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, ở cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc là đang bị cấm hành nghề kinh doanh, bị cấm đảm nhiệm chức vụ hay là làm một công việc nhất định nào đó liên quan đến việc kinh doanh căn cứ theo quyết định của Tòa án. Và các trường hợp khác do pháp luật quy định về phá sản hay phòng, chống tham nhũng.

Quảng cáo

– Nếu như cơ quan thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh yêu cầu thì cá nhân hoặc tổ chức đăng ký kinh doanh phải nộp phiếu lý lịch tư pháp của mình cho cơ quan đăng ký kinh doanh để xác nhận.

Lưu ý: Từ 1/1/2021, Luật doanh nghiệp 2020 có hiệu lực có bổ sung thêm đối tượng không được thành lập công ty như sau:

Cụ thể:

– Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

– Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp);

– Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp

2. Đối tượng bị hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp theo quy định

– Căn cứ theo khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định rằng mỗi cá nhân chỉ có thể thành lập một doanh nghiệp tư nhân và chủ của doanh nghiệp tư nhân cũng không đồng thời được là chủ của hộ kinh doanh và là thành viên công ty hợp danh.

– Căn cứ theo Khoản 1 Điều 175 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định rằng thành viên hợp danh sẽ không được làm chủ của doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh nào khác, trừ trường hợp mà được sự nhất trí của những thành viên hợp danh còn lại trong công ty hợp danh đó.

Trên đây là những tư vấn của Công ty Luật Hùng Sơn về quy định của pháp luật về đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp. Nếu như bạn đặt câu hỏi có còn thắc mắc về vấn đề này hoặc là các vấn đề pháp lý khác, có thể liên lạc với Công ty Luật Hùng Sơn để được hỗ trợ chi tiết.

5/5 - (3 bình chọn)
Ls. Nguyễn Minh Hải

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn