Nợ công là gì? Cách tính nợ công ở Việt Nam hiện nay

  • Ls. Nguyễn Minh Hải |
  • 26-06-2021 |
  • Doanh nghiệp , |
  • 449 Lượt xem

Để thực hiện quản lý kinh tế, xã hội thì có những giai đoạn nhà nước cần phải thực hiện huy động nguồn vốn từ nhiều cá nhân tổ chức cả trong và quốc tế. Những khoản vay này được sử dụng cho các mục đích khác nhau nhưng tóm lại vẫn là vì mục tiêu phát triển cho nền kinh tế nước nhà. Các khoản vay đó còn được gọi là nợ công. Nợ công là gì? Cách tính nợ công ở Việt Nam hiện nay ra sao? Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Quảng cáo

1. Nợ công là gì?

Nợ công, hay còn được gọi là nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia, chính là tổng giá trị những khoản tiền mà chính phủ quốc gia thuộc tất cả cấp từ trung ương tới địa phương đi vay. Việc vay vốn này với mục đích tài trợ cho những khoản thâm hụt ngân sách, hiểu theo cách khác thì nợ chính phủ là khoản thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nhất định nào đó. Để xác định quy mô của nợ chính phủ thì người ta thường định lượng bằng cách đo xem khoản nợ này tương ứng với bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm của quốc nội GDP.

Nợ chính phủ thường được phân thành các loại như sau:

Nợ nước ngoài và nợ trong nước.

Nợ ngắn hạn (khoản nợ từ 1 năm trở xuống, nợ trung hạn (nợ từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (nợ trên 10 năm).

Vì vậy, có thể tóm tắt, nợ công là tất cả những khoản vay nợ của các cấp chính quyền kể từ trung ương đến địa phương tại một thời điểm nhất định nào đó.

Nợ công được tạo ra từ những khoản vay của Chính Phủ, hiện nay Chính Phủ có 2 hình thức vay nợ là: Phát hành trái phiếu của Chính Phủ và hình thức vay trực tiếp.

Đối với phát hành trái phiếu của Chính Phủ

Thông qua quy trình, thủ tục của pháp luật hiện hành thì Chính phủ có thể tiến hành phát hành trái phiếu với mục đích huy động ngân sách từ cộng đồng để sử dụng vào mục đích đã được đưa ra từ trước.

Hình thức vay này của Chính phủ được xác định là có hiệu quả nhanh chóng trong khoảng thời gian huy động vốn. Phát hành trái phiếu bao gồm: trái phiếu nội tệ và trái phiếu ngoại tệ, mỗi loại sẽ có các mức rủi ro khác nhau.

Đối với vay trực tiếp

Bên cạnh hình thức vay bằng phát hành trái phiếu, Chính phủ có thể vay nợ trực tiếp từ Ngân hàng thương mại hay là các quốc gia khác. Hình thức vay này được đánh giá là có độ tín cậy tín dụng thấp và có khả năng chi phối những vấn đề khác trong chính trị.

Nhìn vào lịch sử vay nợ của các nước, đã có rất nhiều trường hợp vì những khoản nợ của mình mà quốc gia đã phải hy sinh nhiều về quyền lợi khác liên quan do sự phụ thuộc về tín dụng của mình.

2. Ai là người trả nợ công

Luật Quản lý nợ công 2017 đã quy định:

“Điều 32. Trả nợ của Chính phủ

Chính phủ có trách nhiệm bố trí ngân sách trung ương để trả nợ của Chính phủ. Mức vay mới để trả nợ gốc nằm trong tổng mức vay của ngân sách nhà nước hằng năm được Quốc hội quyết định.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương để trả nợ vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đầy đủ, đúng hạn.

Bộ Tài chính và cơ quan được Bộ Tài chính ủy quyền cho vay lại có trách nhiệm thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan của các chương trình, dự án vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, nộp vào Quỹ tích lũy trả nợ để bảo đảm nguồn trả nợ nước ngoài.”

Theo đó, Chính phủ có nghĩa vụ phải thanh toán nợ công. Mặc dù vậy khi có rủi ro xảy ra, chẳng hạn như những doanh nghiệp nhà nước đã được Chính phủ bảo lãnh nợ, làm ăn gặp thua lỗ, không có khả năng để thanh toán nợ, làm cho số nợ công ngày càng tăng, thì người phải gánh chịu hậu quả này không ai khác chính là những người dân. Khi mà Chính phủ đã không có khả năng thanh toán nợ thì khủng hoảng nợ công sẽ xảy ra.

Khủng hoảng nợ công được gọi là tình trạng nợ công tăng cao (nói cách khác là vỡ nợ), dẫn đến chao đảo nền kinh tế do thu và chi mất cân bằng nghiêm trọng. Khi mà một đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ công, Chính phủ buộ phải thực hiện các chính sách “thắt lưng buộc bụng” (như tăng thuế, giảm lương hoặc sa thải bớt số viên chức nhà nước,…) và điều này làm cho người phải gánh chịu mọi hậu quả cuối cùng của khoản nợ công chính là người dân.

Nợ công là một hệ quả của việc Nhà nước thực hiện vay vốn và Nhà nước phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Nợ công là không xấu nếu như một quốc gia có khả năng thanh toán số nợ đó.

Nguồn để trả nợ công là những khoản thu trong tương lai gồm có cả thu ngân sách và nguồn thu từ các dự án đầu tư bằng loại nguồn vốn vay (nếu có). Hiện có rất nhiều chính phủ trên thế giới có nhiều thâm hụt về ngân sách, kể cả ngân sách của chính phủ ở những nước công nghiệp phát triển cũng như đang phát triển vậy nên vấn đề nợ công là rất phổ biến trên toàn cầu.

Quảng cáo

–Không như các khoản nợ thông thường, Nhà nước (hoặc những cơ quan thuộc quản lý của Nhà nước) phải có trách nhiệm phải trả đầy đủ khoản công ấy. Trách nhiệm này có thể thể hiện dưới hai hình thức là trực tiếp và gián tiếp.

Trách nhiệm trực tiếp chính là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ chính là người vay và đồng thời là người trả khoản nợ đó (gồm có: Chính phủ Việt Nam hoặc là chính quyền địa phương). Còn hình thức gián tiếp là trong những trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ đứng ra bảo lãnh vay nợ cho một tổ chức trong nước. Nếu như chủ thể vay không thể trả được số nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ do cơ quan đứng ra bảo lãnh (Ví dụ như: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng vay vốn nước ngoài).

nợ công là gì

3. Bản chất pháp lý của nợ công

Việc vay nợ là một cách cách để huy động vốn cho phát triển. Bản chất của nợ không phải là xấu. Nợ công đem lại rất nhiều những tác động tích cực đối với nền kinh tế của các nước đi vay. Trong thực tế, các nước nếu muốn phát triển nhanh đều phải đi vay. Những nền kinh tế lớn nhất thế giới như là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… lại chính là những nước nợ lớn. Bên cạnh những tác động tích cực của nợ công thì nó cũng gặp không ít tác động tiêu cực. Nợ công có những tác động tích cực như sau:

Một là, nợ công tạo đà gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đây tăng cường nguồn vốn cho sự phát triển cơ sở hạ tầng cũng như tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Để phát triển cơ sở hạ tầng được nhanh chóng và đồng bộ, vốn là cơ sở quan trọng nhất. Với chiến lược huy động nợ công hợp lý, nguồn vốn sẽ từng bước được giải quyết giúp cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế;

Hai là, nợ công để tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong cộng đồng. Trong dân cư có một bộ phận trong xã hội có những khoản tiết kiệm, thông qua việc vay vốn của Nhà nước mà những khoản tiền nhàn rỗi đó được đưa vào sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế cho khu vực tư lẫn khu vực công;

Ba là, khoản nợ công tận dụng được sự trợ giúp từ nước ngoài và những tổ chức tài chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong các hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của những nước phát triển mà muốn gây ảnh hưởng đến những nước nghèo đồng thời muốn hợp tác kinh tế song phương. Họ biết tận dụng tốt những cơ hội đó để có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dựa trên cơ sở tôn trọng lợi ích của đối tác, đồng thời giữ vững được độc lập và chủ quyền đất nước.

Mặc dù có những tác động tích cực, nợ công cũng mang đến những tác động tiêu cực, cụ thể:

Nợ công gia tăng sẽ gây ra áp lực lên các chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ những khoản tài trợ từ ngoài nước. Nếu như kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu đi cơ chế giám sát chặt chẽ đối với việc sử dụng và quản lý nợ công thì sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng và lãng phí tràn lan. Tình trạng này làm thất thoát đi các nguồn lực, giảm hiệu quả của đầu tư và quan trọng nhất là giảm thu cho ngân sách. Nhận biết về tác động mặt tích cực và mặt tiêu cực để có thể phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa mặt tiêu cực là một điều hết sức cần thiết trong việc xây dựng và thực thi pháp luật đối với quản lý nợ công.

Về bản chất, để trang trải cho việc thiếu hụt ngân sách thì Nhà nước phải vay nợ. Những khoản vay này sẽ phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến kì và khi đó Nhà nước sẽ phải thu thuế cao lên để bù đắp. Như vậy, suy cho cùng, nợ công coi như là sự lựa chọn về thời gian đánh thuế: hôm nay hoặc ngày mai, thế hệ này hoặc thế hệ khác. Vay nợ thực chất là một cách đánh thuế dần dần và được hầu hết chính phủ các nước áp dụng để tài trợ cho những hoạt động chi ngân sách. Tỷ lệ về nợ công/GDP chỉ phản ánh một mặt nào đó đối với mức độ an toàn hoặc là rủi ro của nợ công. Mức độ an toàn hoặc nguy hiểm của nợ công ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP thì còn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế.

Khi xem xét đến nợ công, chúng ta không chỉ quan tâm về tổng nợ, số nợ hàng năm phải trả mà còn phải quan tâm nhiều đến rủi ro và cơ cấu nợ. Vấn đề quan trọng phải tính đến là khả năng trả nợ cũng như rủi ro trong tương lai, chứ không chỉ mỗi con số tổng nợ trên GDP.

Để đánh giá được tính bền vững về nợ công, tiêu chí về tỷ lệ nợ công/GDP được xem là chỉ số đánh giá phổ thông nhất cho cách nhìn tổng quan về tình hình nợ công đối với một quốc gia. Mức độ an toàn của nợ công sẽ được thể hiện thông qua việc nợ công có vượt ngoài ngưỡng an toàn tại một thời điểm hoặc giai đoạn nào đó không. Tiêu chí để xác định mức an toàn của nợ công được thể hiện như là:

Thứ nhất, giới hạn về nợ công không vượt quá từ 50% – 60% GDP hay là không vượt quá 150% về kim ngạch xuất khẩu. Ngân hàng Thế giới quyết định mức ngưỡng an toàn về nợ công là 50% GDP. Nhiều tổ chức quốc tế cho rằng, tỷ lệ nợ công hợp lý đối với những nước đang phát triển nên dừng ở mức dưới 50% GDP.

Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không được vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu cũng như dịch vụ trả nợ của Chính phủ không được vượt quá 10% của chi ngân sách. Mặc dù vậy, trên thực tế không có hạn mức nào an toàn chung cho nền kinh tế. Không phải cứ tỷ lệ nợ công/GDP thấp là đang trong ngưỡng an toàn và ngược lại. Mức độ an toàn của khoản nợ công phụ thuộc vào trạng thái mạnh hay yếu của nền kinh tế dựa vào hệ thống chỉ tiêu của kinh tế vĩ mô. Như Mỹ có tỷ lệ nợ công là 96% GDP nhưng vẫn coi là ở ngưỡng an toàn do năng suất lao động của Mỹ cao nhất ở thế giới, đây là cơ sở để bảo đảm bền vững cho việc trả nợ. Đối với Nhật Bản có khoản nợ lên tới hơn 200% GDP vẫn coi đây là ngưỡng an toàn. Bên cạnh đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ/GDP rất thấp nhưng lại rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như là: Venezuela năm 1981 chỉ có tỷ lệ nợ công chỉ là 15% GDP; Thái Lan năm 1996 có tỷ lệ nợ công là 40% GDP; Argentina năm 2001 có tỷ lệ nợ công là 45% GDP; của Ukraine năm 2007 có tỷ lệ nợ công là 13% GDP;

Thứ ba, đánh giá nợ công đối với mối liên hệ với những tiêu chí kinh tế vĩ mô. Để có thể đánh giá đúng mức độ về an toàn của nợ công thì không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ/GDP, mà còn cần phải xem xét nợ toàn diện đối với các chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tốc độ và chất lượng tăng trưởng của kinh tế, của năng suất lao động tổng hợp, của hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ về thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm trong nội địa và mức đầu tư xã hội… Ngoài ra, những tiêu chí như là: cơ cấu về nợ công, tỷ trọng của những loại nợ, cơ cấu về lãi suất, thời gian việc trả nợ… cũng cần phải được xem xét khi đánh giá về bản chất nợ công, về tính bền vững của nợ công. Khi mà nợ công tăng cao, vượt quá xa với giới hạn được coi là an toàn thì nền kinh tế rất dễ rơi vào tổn thương và phải chịu nhiều sức ép 2 bên: cả bên trong và bên ngoài.

Như vậy, việc đánh giá đúng về bản chất của nợ công của một nền kinh tế, của một quốc gia là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi vì thế, nếu như chỉ chú trọng vào con số về tỷ lệ nợ công cao một cách đơn thuần sẽ gây ra hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động hoặc thiếu tin tưởng, sẽ làm gia tăng căng thẳng xã hội, tạo cơ hội cho giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây nên rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn đến nền kinh tế vào bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu như yên tâm với tỷ lệ nợ công đang trong giới hạn an toàn mà không tiến hành phân tích cẩn trọng, cần chú ý đúng mức đến các khoản nợ đó đã được hình thành như thế nào, cách thức hình thành, thực trạng của nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ như thế nào…, điều này cũng dễ đẩy nền kinh tế rơi vào trong vòng xoáy thâm hụt ngân sách và tác động tiêu cực đến tăng trưởng.

4. Cách tính nợ công hiện nay

Do quy mô của nền kinh tế ở các nước có sự khác nhau nên gánh nặng của nợ công quốc gia thường được tính dựa trên phần trăm (%) trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Số liệu của nợ công thường được diễn đạt theo rất nhiều cách khác nhau. Nó có thể phân chia thành nợ của Chính phủ hoặc là nợ chung của Chính phủ và các cấp chính quyền.

Nợ công có thể được phân chia dưới dạng những chủ nợ trong ngoài nước, cụ thể là nợ công từ những nhà đầu tư trong nước hoặc là nợ công từ những nhà đầu tư nước ngoài.

Cuối cùng, nợ công có thể được xác định theo dạng tổng nợ của Chính phủ, tức là tổng nợ tài chính của Chính phủ, hoặc nợ ròng Chính phủ, tức là tổng nợ tài chính trừ đi phần tổng tài sản tài chính do Chính phủ nắm giữ.

Trên đây là những chia sẻ của Luật Hùng Sơn về vấn đề Nợ công là gì? Cách tính nợ công ở Việt Nam hiện nay. Hy vọng với những chia sẻ này đã giúp bạn biết được rõ hơn về nợ công. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, Quý Khách hàng vui lòng liên hệ đến tổng đài 19006518 để được hỗ trợ chi tiết nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác từ bạn!

Vui lòng đánh giá!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn