logo

Cổ đông thiểu số là gì? Lợi ích của cổ đông thiểu số

  • Ls. Luyện Ngọc Hùng |
  • 14-05-2021 |
  • Doanh nghiệp , |
  • 10145 Lượt xem

Trong doanh nghiệp khi thực hiện báo cáo tài chính thì khoản mục về lợi ích của cổ đông thiểu số thường sẽ được trình bày thành một chỉ tiêu riêng biệt. Vậy cổ đông thiểu số là gì? Lợi ích của cổ đông thiểu số. Luật Hùng Sơn xin giới thiệu ở bài viết dưới đây:

1. Cổ đông thiểu số là gì?

Cổ đông thiểu số là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít số lượng cổ phần trong một công ty so với một cổ đông nắm quyền kiểm soát trong công ty.

Dù tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, về mặt lý luận, có thể hiểu cổ đông thiểu số là cổ đông không chi phối được công ty và không có đủ khả năng để áp đặt quan điểm, ý chí, đường lối, sách lược của mình trong hoạt động công ty… khi các cổ đông thực hiện các quyền của mình.

Việc xác định cổ đông thiểu số dựa trên hai yếu tố quan trọng hàng đầu sau đây: 

  • Thứ nhất: cổ đông thiểu số phải nói đến vốn góp của họ là tổng số cổ phần mà họ sở hữu (đó là phần trăm cổ phần có quyền thực hiện biểu quyết) hay phần vốn góp của họ (tỷ lệ phần trăm) trong vốn điều lệ của công ty; 
  • Thứ hai: nói đến cổ đông thiểu số là nói đến khả năng của họ trong việc tác động đến những chính sách kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển, lựa chọn người quản lý công ty hay nói cách khác ở đây là nói tới vai trò của họ khi thực hiện quyền biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty.

2. Lợi ích của cổ đông thiểu số là gì

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay, lợi ích của cổ đông thiểu số sẽ được định nghĩa là một phần từ kết quả hoạt động thuần và các giá trị tài sản thuần của một công ty con được xác định tương ứng cho các phần lợi ích không phải do công ty mẹ là sở hữu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các hoạt động công ty con.

Lợi ích của cổ đông thiểu số trong tài sản thuần của công ty con sẽ bị hợp nhất được xác định và được trình bày tại Bảng cân đối kế toán hợp nhất thành một chỉ tiêu riêng biệt và được tách khỏi phần nợ phải trả và phần vốn chủ sở hữu của cổ đông của công ty mẹ. Như vậy, lợi ích của cổ đông thiểu số trong tài sản thuần bao gồm:

– Giá trị của các lợi ích của cổ đông thiểu số tại ngày hợp nhất kinh doanh ban đầu sẽ được xác định một cách phù hợp so với chuẩn mực kế toán “Hợp nhất kinh doanh”.

– Phần lợi ích của cổ đông thiểu số trong sự biến động của tổng vốn chủ sở hữu kể từ ngày hợp nhất kinh doanh.

lợi ích của cổ đông thiểu số

3. Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty

3.1. Quyền của cổ đông thiểu số

3.1.1. Nhóm quyền tài sản

Quyền nhận cổ tức: Cũng như những cổ đông lớn cổ đông thiểu số sẽ có quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Khoản 4, Điều 135 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên công ty cổ phần phải thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này sẽ góp phần hạn chế tình trạng nợ cổ tức, củng cố thêm niềm tin của nhà đầu tư khi đầu tư vào công ty cổ phần.

Trường hợp công ty cổ phần vi phạm các quy định về trả cổ tức, cổ đông có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án buộc công ty cổ phần phải tuân thủ. Nếu các cổ đông công ty có bằng chứng về chứng minh công ty cổ phần vi phạm các quy định về trả cổ tức thì ngoài việc khởi kiện và yêu cầu tòa án buộc công ty thanh toán cổ tức, các cổ đông còn có các quyền yêu cầu tòa án đưa ra các phán quyết buộc công ty phải thanh toán thêm phần lãi chậm trả cổ tức cho các cổ đông.

Các quyền liên quan đến chuyển nhượng cổ phần, yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Luật Doanh nghiệp năm 2020 duy trì nguyên tắc tự do chuyển nhượng (trừ trường hợp 03 năm của cổ đông sáng lập) từ Luật Doanh nghiệp năm 2005, ngoài ra, cũng có quy định mới cho phép Điều lệ của công ty được quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần trong công ty.

Theo đó, các cổ đông đã có ý tưởng sáng lập ra công ty thường sẽ là những cổ đông lớn và họ phải có trách nhiệm gắn bó với công ty, không được tùy ý từ bỏ công ty. Khi một cổ đông sáng lập rời khỏi công ty sẽ phải được sự đồng ý của các cổ đông sáng lập khác, cụ thể là được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, điều này cũng không nằm ngoài vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số, đặc biệt là những cổ đông đến mua cổ phần sau khi công ty đã được thành lập.

Bên cạnh đó, cũng giống như các cổ đông khác trong công ty, cổ đông thiểu số cũng sẽ có các quyền khác về tài sản như quyền được nhận một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản, quyền ưu tiên mua cổ phần mới khi công ty chào bán…

Loading...

3.1.2. Nhóm quyền quản trị công ty

Căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết bên cạnh hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền thì còn có “các hình thức khác” do pháp luật hoặc theo điều lệ công ty quy định.

Mặc dù “các hình thức khác” chưa được làm rõ những quy định này không những đã thể hiện được sự chủ động của công ty trong việc lựa chọn các hình thức tham dự cuộc họp phù hợp với tình hình hoạt động (Ví dụ: họp trực tuyến hoặc bỏ phiếu điện tử…) còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của toàn bộ cổ đông, đặc biệt là các cổ đông tối thiểu trong việc tham dự và thực hiện quyền biểu quyết của mình.

Về điều kiện tiến hành họp: Nếu như trước đây, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định tỷ lệ cổ đông dự họp lần thứ nhất, lần thứ hai (khi lần thứ nhất không đủ điều kiện) lần lượt là: ít nhất 51% và ít nhất 33% thì Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2020 giảm xuống còn: ít nhất 50% và ít nhất 33%. Điều này đã tạo điều kiện cho các cổ đông thiểu số thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được dễ dàng hơn vì các cổ đông nhỏ thì sẽ sở hữu ít số cổ phần nên họ phải phối hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông đạt tỷ lệ đủ điều kiện để tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai mà không cần phải chờ đến lần thứ ba.

Về tỉ lệ biểu quyết trong cuộc họp: Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định tỷ lệ thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông: từ 50% đối với quyết định thông thường, từ 65% đối với quyết định quan trọng (Luật Doanh nghiệp 2014 quy định tỷ lệ cũ là 51% và 65%). Xét trên phương diện bảo vệ cổ đông thiểu số việc giảm tỉ lệ trên dường như gây bất lợi hơn cho cổ đông thiểu số so với Luật doanh nghiệp 2014, tuy nhiên đây chỉ là những tỷ lệ tối thiểu; trong trường hợp các bên có thỏa thuận một tỷ lệ lớn hơn thì sẽ áp dụng theo tỷ lệ đó. Do vậy, trong đàm phán ban đầu nếu các cổ đông nhỏ có thể đạt được các thỏa thuận có lợi, trong đó tỷ lệ cổ phần được thông qua lớn hơn những con số trên thì thỏa thuận đó vẫn là hợp pháp và sẽ bảo vệ quyền lợi của cổ đông tốt hơn. Mặt khác, việc giảm tỷ lệ biểu quyết theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2020 còn hạn chế được những trường hợp chỉ vì lợi ích của một cổ đông thiểu số trong công ty mà ngăn cản những chính sách lớn có lợi cho đa số cổ đông công ty.

Về việc bầu thành viên Hội đồng quản trị công ty, ban kiểm soát Luật Doanh nghiệp 2020 quy định bầu dồn phiếu không còn là phương thức bắt buộc trong việc thực hiện khi bầu thành viên trong Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, việc lựa chọn bầu bằng phương pháp bầu dồn phiếu hay không phụ thuộc sẽ chủ động theo công ty và được quy định trong điều lệ công ty tại Khoản 3, Điều 148. Bầu dồn phiếu là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ cổ đông thiểu số, mục đích cơ bản của việc bầu dồn phiếu đó chính là tăng cường sự hiện diện của các cổ đông thiểu số trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát và đảm bảo cho sự điều hòa được quyền hành và kiểm soát công ty giữa các nhóm cổ đông với nhau. Luật Doanh nghiệp 2020 kế thừa Luật Doanh nghiệp 2014 đã trao thêm quyền tự chủ hoạt động cho các Công ty cổ phần nhưng xét trên khía cạnh để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số thì quy định này sẽ phần nào làm hạn chế tác dụng của “công cụ pháp lý bầu dồn phiếu”. Bởi rất có thể khi một nhà đầu tư họ mua cổ phiếu công ty và trở thành cổ đông của công ty thì điều lệ công ty đó đã quy định về việc không áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu ngay từ đầu.

Về quyền ứng cử hay đề cử vào Hội đồng quản trị, ban kiểm soát. Khi những cổ đông thiểu số liên kết lại để hình thành nhóm cổ đông công ty, họ sẽ được quyền cử người vào trong Hội đồng quản trị hay ban kiểm soát. Bên cạnh về việc đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên trong Hội đồng quản trị, Luật doanh nghiệp 2020, không quy định cụ thể về số lượng cổ phần mà cổ đông phải nắm giữ. Đây cũng là một tiến bộ lớn tạo cơ hội để cổ đông thiểu số tiến gần hơn vào bộ máy quản lý của công ty có quyền trực tiếp giám sát các hoạt động của công ty và bảo đảm lợi ích chính đáng cho mình.

3.1.3. Nhóm quyền về thông tin

Cổ đông công ty có quyền được nắm bắt những thông tin về công ty một cách đầy đủ đây là một trong những quyền cơ bản và quan trọng và là cơ sở để cổ đông thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền để biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền bầu và miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và cả quyền chuyển nhượng cổ phần trong công ty. Về nhóm quyền này, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định đối với các thông tin quan trọng của công ty như Báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, biên bản họp HĐQT, nghị quyết của HĐQT, báo cáo của Ban kiểm soát, chỉ khi các cổ đông thiểu số tập hợp lại thành một nhóm cổ đông thì mới có thể thực hiện được (Khoản 2 Điều 115). Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam hiện nay đã trao quyền cho cổ đông thiểu số có cơ hội được tiếp cận thông tin để có thể kiểm soát và theo dõi được tình hoạt động kinh doanh của công ty, tuy nhiên với việc hạn chế lượng thông tin bắt buộc họ phải cung cấp và giới hạn về chủ thể được yêu cầu cung cấp đã phần nào cũng làm cản trở mục đích bảo vệ cổ đông thiểu số của nhóm quyền này trên thực tế.

3.1.4. Nhóm quyền mang tính khắc phục

Về quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông: Luật doanh nghiệp 2014 đã giới hạn lại chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét để hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông đó là “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trong công ty trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” (Điều 147). Đến Luật Doanh nghiệp 2020, nhóm cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trong công ty trở lên. Đây cũng là một trong những quyền lợi của cổ đông thiểu số được nhận so với quy định trước đây.

Về quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hay Tổng giám đốc Điều 166 Luật doanh nghiệp 2020 quy định: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất là 1% số cổ phần phổ thông trở lên sẽ có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty để khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị công ty, giám đốc hay Tổng giám đốc trong một số trường hợp Luật quy định. Việc trao quyền trực tiếp thực hiện việc khởi kiện các chức danh quản lý cho cổ đông công ty hay nhóm cổ đông ngay từ ban đầu mà không phải thông qua ban kiểm soát theo sẽ giảm bớt tính phức tạp trong thủ tục khi khởi kiện những chức danh quản lý trong công ty. Thêm vào đó, cổ đông họ có thể nhân danh công ty để khởi kiện người quản lý khi phát hiện người quản lý có các hành vi vi phạm và gây thiệt hại đến cho lợi ích công ty để đòi bồi thường thiệt hại sẽ góp phần bảo vệ cổ đông thiểu số một cách hữu hiệu.

3.2. Ấn định nghĩa vụ cơ bản của người quản lý công ty

Căn cứ theo Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định chi tiết về nghĩa vụ người quản lý công ty bao gồm: thành viên trong Hội đồng quản trị, Giám đốc hay Tổng giám đốc và người quản lý khác trong công ty sẽ có trách nhiệm và bảo đảm quyền cũng như lợi ích của cổ đông và công ty theo nguyên tắc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty theo đúng quy định của Luật. Đây cũng là quy định để  bổ sung nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số.

Liên quan đến những vấn đề về trách nhiệm của người quản lý công ty đối với việc thực hiện yêu cầu triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Luật doanh nghiệp 2020 còn quy định thêm một số nội dung như Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty và các thành viên trong Hội đồng quản trị đều phải chịu trách nhiệm khi họ không thực hiện việc triệu tập cuộc họp bất thường theo đúng quy định pháp luật. Mặc dù Luật doanh nghiệp chưa có quy định trong việc xác định mức độ trách nhiệm để bồi thường của các thành viên Hội đồng cổ đông, nhưng đây cũng vẫn là một trong những quy định giúp đảm bảo hơn quyền lợi của cổ đông thiểu số.

3.3. Kiểm soát các giao dịch tư lợi

Căn cứ theo Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020, trong các hợp đồng hay các giao dịch giữa công ty với cổ đông, người đại diện ủy quyền của nhóm cổ đông có sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; giữa công ty với thành viên trong Hội đồng quản trị, giám đốc hay Tổng giám đốc và những người có liên quan của họ; giữa công ty với các doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hay Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty có sở hữu cổ phần phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị trong công ty chấp thuận.

Trên đây là toàn bộ chia sẻ của Luật Hùng Sơn về cổ đông thiểu số là gì? Lợi ích của cổ đông thiểu số. Nếu các bạn còn bất kỳ vướng mắc nào cần giải đáp hoặc yêu cầu sử dụng dịch vụ của chúng tôi, các bạn hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ sớm nhất theo số tổng đài: 1900 6518.

Ls. Luyện Ngọc Hùng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

Hotline
Top
Developed by Luathungson.vn
Chat với chúng tôi qua Zalo
Developed by Luathungson.vn