Tìm hiểu lãi suất của các công ty tài chính là bao nhiêu?

  • Ls. Nguyễn Minh Hải |
  • 08-10-2021 |
  • Doanh nghiệp , |
  • 33 Lượt xem

Hiện nay, hoạt động cho vay tiêu dùng  đã và đang  trở thành phương thức khá quen thuộc và gần gũi với người dân. Tuy nhiên,  với những công ty tài chính đang thực hiện việc chuyên cung cấp các dịch vụ cho vay tiêu dùng tín chấp vẫn đang gặp phải những định kiến khác nhau, trái chiều, đặc biệt là liên quan về lãi suất cho vay. Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra như giữa khách hàng và công ty tài chính nên thỏa thuận lãi suất như thế nào cho phù hợp với những quy định của pháp luật? Nếu như lãi suất thỏa thuận giữa hai bên không đúng theo những quy định của pháp luật thì lãi suất đó sẽ được tính như thế nào? Hay thỏa thuận này theo pháp luật có bị coi là vi phạm pháp luật hay không? Hay quy định pháp luật hiện hành có những quy định lãi suất của các công ty tài chính là bao nhiêu? Hãy cùng với Luật Hùng Sơn tìm hiểu về lãi suất của các công ty tài chính qua bài viết dưới đây.

Công ty tài chính là gì?

Công ty tài chính được xem là những doanh nghiệp mà thuộc loại hình là tổ chức phi ngân hàng hay thực hiện huy động vốn để cho vay hoặc đầu tư và cung ứng các dịch vụ tư vấn về mảng tiền tệ và tài chính nhưng được hoạt động trên những nguyên tắc riêng,  được thực hiện dịch vụ thanh toán nhưng không được thực hiện nhận tiền gửi dưới một năm.

Bên cạnh đó, những quy định liên quan về các tổ chức tín dụng cũng nói rõ: Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được định nghĩa là loại hình của tổ chức tín dụng mà được phép thực hiện một hoặc một số hoạt động liên quan đến  ngân hàng dựa theo các quy định, trừ một số hoạt động như hoạt động nhận tiền gửi của các cá nhân và hoạt động cung ứng những dịch vụ thanh toán thực hiện qua tài khoản của các khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng sẽ bao gồm các loại hình sau:công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính cùng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

Tương tự giống như các loại tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác, công ty tài chính bị pháp luật hạn chế hai loại nghiệp vụ kinh doanh là không được nhận tiền gửi ngắn hạn (dưới một năm) và không được thực hiện các dịch vụ thanh toán. Tổ chức và hoạt động của công ty tài chính chịu một số hạn chế của pháp luật áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế.

lãi suất của các công ty tài chính là bao nhiêu

Lãi suất là gì?

Lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ mà dựa theo đó thì tiền lãi được người vay thực hiện trả cho việc sử dụng tiền mà họ đã vay từ một  người thực hiện cho vay. Cụ thể là lãi suất (công thức là I/m) chính là phần trăm giữa tiền gốc (ký hiệu P) phải thực hiện trả cho một số lượng về thời gian nhất định của thời gian (kí hiệu m) dựa theo mỗi thời kỳ (thường sẽ được tính theo năm).

Lãi suất của các công ty tài chính là bao nhiêu?

Lãi suất cho vay tiêu dùng của công ty tài chính thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng hoặc của các tổ chức tín dụng

Công ty tài chính ban hành quy định về khung lãi suất cho vay tiêu dùng áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống trong từng thời kỳ, trong đó sẽ có bao gồm mức lãi suất theo quy định cho vay cao nhất và mức lãi suất theo quy định cho vay thấp nhất đối với riêng từng sản phẩm tiến hành cho vay tiêu dùng.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung khung lãi suất cho vay tiêu dùng, công ty tài chính phải gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính cho cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi công ty tài chính đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, điểm giới thiệu dịch vụ báo cáo về khung lãi suất cho vay tiêu dùng theo Phụ lục số 04 ban hành kèm theo thông tư này. Do vậy, công ty tài chính sẽ phải dựa trên mức lãi suất cho vay được cho phép của ngân hàng nhà nước để có thể điều chỉnh mức lãi suất phù hợp.

Quy định về lãi suất của công ty tài chính như thế nào?

Giữa khách hàng và các tổ chức tín dụng sẽ tiến hành thỏa thuận với nhau về lãi suất cụ thể cho vay dựa theo nhu cầu cung cầu về vốn thị trường, về nhu cầu vay vốn và dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ những trường hợp khác mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có những quy định riêng về lãi suất tối đa cho hoạt động vay.

Khách hàng và tổ chức tín dụng sẽ thỏa thuận với nhau về mức lãi suất cho hoạt động vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đồng nhưng không được vượt quá mức lãi suất tối đã cho hoạt động vay của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định trong từng thời kỳ khác nhau nhằm đáp ứng cho một số nhu cầu về vốn, cụ thể:

a) Phục vụ trong lĩnh vực phát triển nông thôn , phát triển nông nghiệp theo quy định của Chính phủ về các chính sách tín dụng để nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển nông thôn và nông nghiệp;

b) Thực hiện các phương án trong lĩnh vực kinh doanh hàng xuất khẩu dựa theo các quy định liên quan của Luật thương mại và các văn bản pháp lý hướng dẫn chi tiết của Luật thương mại;

c) Phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo những quy định của Chính phủ về hoạt động trợ giúp và hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

d) Phát triển các ngành công nghiệp nhằm hỗ trợ dựa theo quy định của Chính phủ liên quan về phát triển công nghiệp hỗ trợ;

đ) Phục vụ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động ứng dụng các công nghệ cao theo những quy định của Luật công nghệ cao cùng với các văn bản liên quan hướng dẫn thi hành Luật công nghệ cao.

– Nội dung về những thỏa thuận liên quan đến lãi suất cho vay sẽ bao gồm mức lãi suất cho hoạt động vay và phương pháp, công thức để tính lãi đối với chính khoản vay đó. Trong trường hợp mà mức lãi suất thỏa thuận cho vay không được quy đổi dựa theo tỷ lệ %/năm và hay hoặc không được áp dụng phương pháp tính lãi là dựa theo số dư nợ của hoạt động cho vay thực tế cùng với thời gian để duy trì được số dư nợ gốc trên thực tế đó thì trong những thỏa thuận cho vay giữa hai bên sẽ phải bao gồm có nội dung liên quan đến mức lãi suất quy đổi dựa theo số tỷ lệ %/năm (một năm được tính là có ba trăm sáu mươi lăm ngày) được tính dựa theo số dư nợ được cho vay trên thực tế và thời gian để duy trì số dư nợ được cho vay trên thực tế đó.

Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên cho vay mà khách hàng không thực hiện trả hoặc có trả nhưng không đầy đủ được  nợ gốc và hay hoặc cả lãi của tiền vay theo những thỏa thuận trước đó thì lúc này, lãi tiền vay của khách hàng phải như sau:

  • Lãi được tính trên nợ gốc dựa theo lãi suất cho vay mà hai bên đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn đã vay mà đến hạn chưa thực hiện trả;
  • Trong trường hợp khách hàng không thực hiện trả đúng hạn tiền lãi theo quy định như ở trên, thì khách hàng phải trả lãi chậm trả dựa theo mức lãi suất của khách hàng và tổ chức tín dụng đã thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất 10%/năm được tính dựa trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
  • Trong trường hợp mà các khoản nợ đã vay bị chuyển nợ sang quá hạn thì khách hàng lúc này phải trả lãi dựa trên số dư nợ gốc đã bị quá hạn mà tương ứng với thời gian đã chậm trả, lúc này lãi suất được áp dụng không được vượt quá mức 150% lãi suất được cho vay trong thời hạn là tại thời điểm được tính chuyển nợ quá hạn.

Như vậy, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn như: phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn; thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu, kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ thì lãi suất cho vay thực hiện theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước; các trường hợp cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn của khách hàng thì lãi suất cho vay sẽ do các bên thỏa thuận.

Khi vay khách hàng biết rõ lãi suất cao nhưng vẫn đồng ý vay với lãi suất các công ty tài chính đưa ra nên như vậy vẫn phù hợp với pháp luật. Trong trường hợp mà đã đến hạn thanh toán đối với bên cho vay mà bên vay vẫn không trả đầy đủ thì phải trả lãi như sau:

  • Lãi dựa trên nợ gốc mà theo lãi suất đã thỏa thuận trước đó;
  • Lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo thỏa thuận nhưng tối đa 10%/năm;
  • Lãi trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn

Lãi suất cho vay tối đa của công ty tài chính là bao nhiêu?

Theo quy định bộ luật Dân sự 2015 thì lãi suất cho vay sẽ không được vượt quá mức quy định là lãi suất 20%/năm. Tuy nhiên, đối với các công ty tài chính thì mức lãi suất lại không được điều chỉnh bởi quy định của Bộ Luật Dân sự như quy định thông thường, mà được điều chỉnh bởi các quy định của luật chuyên ngành liên quan.

Cụ thể là dựa vào khoản 1 Điều 9 TT 43/2016/TT-NHNN thì lãi suất cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính sẽ được điều chỉnh và thực hiện theo các quy định của Ngân hàng nhà nước về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. Trong đó, tại Điều 13 TT 39/2016/TT-NHNN cũng đã quy định rõ: Giữa tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận với nhau về lãi suất cho vay dựa theo cung cầu vốn trên thị trường, nhu cầu vay vốn và dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng…

Như vậy, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể mức lãi suất trần và mức lãi suất tối đa đối với hình thức vay tiêu dùng của các công ty tài chính. Tuy nhiên, lãi suất do các công ty tài chính tự điều chỉnh cũng cần phải được Ngân hàng Nhà nước thông qua và cho phép áp dụng.

Trên đây là toàn bộ những tư vấn và chia sẻ của chúng tôi về lãi suất của các công ty tài chính là bao nhiêu. Nếu quý khách hàng gặp phải vướng mắc liên quan đến việc tính chi phí sang tên, đừng ngần ngại liên hệ với Luật Hùng Sơn chúng tôi để được hỗ trợ nhanh nhất.

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn