Quyền tác giả, điều kiện bảo hộ quyền tác giả như nào?

Quyền tác giả là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả là quyền của cá nhân, tổ chức đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Hiện nay, bên cạnh các quyền sở hữu trí tuệ như quyền đối với nhãn hiệu, sáng chế,… thì hầu hết các doanh nghiệp rất quan tâm và chú trọng đến quyền tác giả. Một số lĩnh vực kinh doanh được bảo hộ quyền tác giả như: Phần mềm máy tính; Sách; Tác phẩm nghệ thuật; Nhãn hàng hóa hoặc bao bì sản phẩm…

Quảng cáo

Vậy để được bảo hộ quyền tác giả cần đáp ứng những điều kiện gì? Cá nhân, tổ chức cần lưu ý gì về quyền tác giả và điều kiện bảo hộ quyền tác giả? Bài viết dưới đây sẽ cùng bạn tìm hiểu các nội dung này.

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả chung

Trước hết, cần hiểu khái niệm “Quyền tác giả”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.

Cũng tại Khoản 7, Điều 4 đề cập “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phư­ơng tiện hay hình thức nào.”

Với mỗi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, có căn cứ phát sinh, xác lập khác nhau. Quyền tác giả đối với tác phẩm phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được định hình. Quyền tác giả phát sinh không phân biệt nội dung tác phẩm, chất lượng, hình thức, ngôn ngữ, đã làm thủ tục đăng ký hay chưa làm thủ tục đăng ký.

Khác với các quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền đối với nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp (Trừ nhãn hiệu nổi tiếng). Những quyền này phát sinh dựa vào thủ tục đăng ký xác lập tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền tác giả phát sinh không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký mà phát sinh “tự động” ngay sau khi tác giả sáng tạo ra và định hình tác phẩm dưới một hình thức vật chất nhất định.

Ví dụ: Để bảo hộ một nhãn hiệu thông thường, cần làm thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Để bảo hộ một tác phẩm âm nhạc, chỉ cần tác giả độc lập sáng tạo và định hình tác phẩm như viết trên giấy và tác phẩm đã là căn cứ phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm mà không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký; không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, ngôn ngữ… của tác phẩm.

Có thể khái quát tiêu chí bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm như sau:

  • Thứ nhất, tác phẩm đảm bảo tính nguyên gốc

Một tác phẩm nếu muốn bảo hộ quyền tác giả cần phải có tính nguyên gốc.  Tức là tác phẩm là kết quả của quá trình sáng tạo độc lập của tác giả và không sao chép từ tác phẩm của người khác.

  • Thứ hai, tác phẩm được định hình dưới một dạng vật liệu nhất định

Định hình tức là tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Chẳng hạn, tác phẩm văn học được thể hiện trên trang giấy; chương trình truyền hình (video) được lưu trong đĩa hoặc thu băng.

Như vậy, một tác phẩm được bảo hộ nếu nó được sáng tạo độc lập, không sao chép và đã được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Quá trình sáng tạo tác phẩm đòi hỏi tác giả phải đầu tư, bỏ chất xám, kỹ năng, khéo léo và nỗ lực. Nhưng các yếu tố về chất lượng, nội dung, giá trị không phải một trong những điều kiện để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Điều kiện về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Cá nhân, tổ chức có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Tác phẩm như một đứa con tinh thần được tạo ra bởi sự sáng tạo của tác giả.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là:
    • Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả. Tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, tác giả có thể tự đầu tư thời gian, chi phí… để sáng tạo độc lập tác phẩm;
    • Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả. Một tác phẩm có thể có nhiều hơn một tác giả sáng tạo nên. Nếu có từ hai tác giả cùng sáng tạo tác phẩm và các đồng tác giả đều sử dụng thời gian, chi phí,… để sáng tạo ra tác phẩm thì cùng có quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu quyền tác giả;
    • Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc ký hợp đồng với tác giả. Tổ chức có thể giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho cá nhân thuộc tổ chức mình. Khi đó tổ chức là chủ sở hữu tác phẩm nếu không có thỏa thuận khác; Hoặc trường hợp giao kết hợp đồng thuê sáng tác giữa cá nhân, tổ chức với tác giả. Khi đó, chủ sở hữu tác phẩm là cá nhân, tổ chức thuê dịch vụ sáng tác;
    • Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế;
    • Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền;
    • Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước
  • Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nói trên bao gồm:
    • Cá nhân, tổ chức Việt Nam;
    • Cá nhân, tổ chức nước ngoài có tác phẩm công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm công bố lần đầu tại quốc gia khác;
    • Cá nhân, tổ chức nước ngoài có tác phẩm bảo hộ tại Việt Nam dựa trên ĐƯQT về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Hiện nay, ở Việt Nam theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

“1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.”

Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định về Tác phẩm phái sinh như sau: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.”

Quảng cáo

Để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ, thì tác phẩm phái sinh đó phải đảm bảo không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Chẳng hạn, tác phẩm dịch tác phẩm âm nhạc từ tiếng Nga sang tiếng Việt sẽ được bảo hộ nếu:

Tác phẩm phái sinh được thực hiện nếu được sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả;

Tác phẩm dịch đó không gây phương hại đến các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác phẩm gốc;

Tác phẩm dịch đó đồng thời phải do tác giả trực tiếp sáng tạo và không sao chép của người khác.

Các đối tượng không đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Những đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Tin tức thời sự thuần túy. Ví dụ như thông tin đơn thuần, bản tin thời sự…;

Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ cho sự kiện thông tin, tin tức thuần túy dù đó có thể là thông tin khoa học, lịch sử, tin tức thời sự. Tuy nhiên có thể bảo hộ cách thức thể hiện (trình bày) thông tin hoặc sắp xếp thông tin dưới dạng Cơ sở dữ liệu.

  • Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính… không được bảo hộ quyền tác giả.
  • Hệ thống, quy trình, phương pháp hoạt động, nguyên lý, số liệu…

Pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng không bảo hộ cho các ý tưởng, suy nghĩ, khái niệm, hệ thống, phương pháp hoạt động, nguyên lý,… Tuy nhiên những tài liệu hướng dẫn dưới dạng văn bản giải thích, minh họa (Tác phẩm viết) cho các ý tưởng, khái niệm, nguyên lý… lại được bảo hộ quyền tác giả.

Hành vi xâm phạm quyền tác giả

Xác lập quyền tác giả là một vấn đề vậy làm thế nào để xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả? Về bản chất, bất cứ hành vi nào không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả mà hành vi đó thuộc phạm vi quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, thì bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 28 quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả như sau:

“1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

2. Mạo danh tác giả.

3. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

4. Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

6. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.

7. Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.

8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

9. Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

10. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

11. Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

12. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

13. Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

14. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

15. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.

16. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”

Dựa vào những quy định trên, có thể phân chia nhóm các hành vi vi phạm quyền tác giả thành 2 nhóm:

  • Xâm phạm các quyền tài sản;
  • Xâm phạm các quyền nhân thân.

Trên đây là nội dung bài viết: “Quyền tác giả, điều kiện bảo hộ quyền tác giả như thế nào?” Qua bài viết đã giới thiệu sơ lược các nội dung điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả; các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả và những hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Trường hợp cần tư vấn chuyên sâu về lĩnh vực xác lập quyền tác giả hoặc đăng ký quyền tác giả. Vui lòng để lại thông tin hoặc gọi điện đến Tổng đài tư vấn của Luật Hùng Sơn: 1900.6518 để được hỗ trợ kịp thời.


Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn