Tìm hiểu viên chức lãnh sự là gì? Quy định về viên chức lãnh sự

  • Ls. Nguyễn Minh Hải |
  • 18-01-2022 |
  • Tin tức , |
  • 90 Lượt xem

Cơ quan lãnh sự được hiểu là cơ quan quan hệ đối ngoại của 1 nước ở nước ngoài. Cơ quan này thực hiện các chức năng lãnh sự ở khu vực lãnh thổ nhất định dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa những quốc gia hữu quan. Trong nội dung bài viết này, Luật Hùng Sơn sẽ giúp các bạn hiểu viên chức lãnh sự là gì? nhân viên lãnh sự là gì và những thông tin liên quan khác.

Viên chức lãnh sự là gì? Nhân viên lãnh sự là gì?

Căn cứ theo Điểm d Khoản 1 của Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963 quy định:

“Viên chức lãnh sự” có nghĩa là bất cứ người nào, kể cả người đứng đầu cơ quan lãnh sự, được uỷ nhiệm thực hiện các chức năng lãnh sự trên cương vị đó;”

Điểm e Khoản 1 của Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963 có quy định:

“Nhân viên lãnh sự” có nghĩa là bất cứ người nào được tuyển dụng làm công việc hành chính hoặc kỹ thuật trong cơ quan lãnh sự;”

viên chức lãnh sự là gì

Quy định về viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự

Sự bất khả xâm phạm về thân thể của viên chức lãnh sự

  • Viên chức lãnh sự không bị bắt hoặc bị tạm giam chờ xét xử, ngoại trừ trường hợp phạm tội nghiêm trọng và căn cứ theo quyết định của cơ quan tư pháp có thẩm quyền.
  • Ngoài trường hợp nêu trong khoản 1 Điều này, viên chức lãnh sự sẽ không bị bỏ tù hoặc hạn chế tự do cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào,ngoại trừ trường hợp phải thi hành 1 quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan tư pháp.
  • Trong trường hợp một quá trình tố tụng hình sự được tiến hành đối với 1 viên chức lãnh sự thì người đó cần phải ra trước nhà chức trách có thẩm quyền. Mặc dù vậy, vì cương vị chính thức của viên chức lãnh sự, quá trình tố tụng với người này cần phải được tiến hành với sự tôn trọng thích đáng và cần phải tiến hành sao cho càng ít gây trở ngại tới việc thực hiện chức năng lãnh sự càng tốt, ngoại trừ trường hợp nêu ở khoản 1 tại Điều này. Khi cần phải tạm giam 1 viên chức lãnh sự trong hoàn cảnh nêu trong khoản 1 Điều này, việc tiến hành tố tụng với người đó cần phải tiến hành trong thời gian sớm nhất.

Thông báo về việc bắt, tạm giam hoặc truy tố

Nếu bắt hay tạm giam chờ xét xử hoặc là truy tố về hình sự 1 cán bộ nhân viên biên chế cơ quan lãnh sự, quốc gia tiếp nhận cần phải nhanh chóng thông báo cho người đứng đầu cơ quan lãnh sự biết. Trong trường hợp chính bản thân người đó là đối tượng của 1 biện pháp như vậy, thì quốc gia tiếp nhận cần phải thông báo cho quốc gia cử qua đường ngoại giao.

Quyền miễn trừ xét xử 

Viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự không phải chịu sự xét xử của nhà chức trách tư pháp hay hành chính của quốc gia tiếp nhận về các hành vi thực hiện khi thi hành chức năng lãnh sự.

Mặc dù vậy, những quy định ở khoản 1 của Điều này không áp dụng đối với 1 vụ kiện dân sự:

  • Xảy ra vì 1 hợp đồng do 1 viên chức lãnh sự hoặc 1 nhân viên lãnh sự ký kết mà không cần phải là rõ ràng hay hàm ý đứng trên danh nghĩa 1 người được uỷ quyền của Nước cử để ký kết; hoặc
  • Do 1 bên thứ ba tiến hành về thiệt hại do 1 tai nạn xe cộ, tàu thuỷ hay tàu bay xảy ra tại quốc gia tiếp nhận.

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

  • Thành viên 1 cơ quan lãnh sự có thể được mời tham gia vào quá trình tiến hành tố tụng về tư pháp hay hành chính với tư cách là nhân chứng. Đối với nhân viên lãnh sự hay nhân viên phục vụ không được quyền từ chối cung cấp chứng cứ, ngoại trừ các trường hợp ghi trong khoản 3 Điều này. Nếu như một viên chức lãnh sự từ chối cung cấp chứng cứ, thì không quyền được áp dụng biện pháp cưỡng chế hay hình phạt đối với người đó.
  • Cơ quan yêu cầu viên chức lãnh sự cung cấp chứng cứ cần phải tránh làm trở ngại việc thi hành các chức năng của người đó. Nếu như được, có thể lấy lời khai ở nhà riêng hoặc ở cơ quan lãnh sự hay nhận 1 bản khai viết của viên chức lãnh sự.
  • Thành viên 1 cơ quan lãnh sự không bắt buộc phải cung cấp chứng cứ về những vấn đề có liên quan tới việc thi hành chức năng của mình hoặc cần phải cung cấp thư từ chính thức và những tài liệu có liên quan khác. Họ cũng có quyền từ chối về việc cung cấp chứng cứ dưới tư cách là người làm chứng chuyên môn về pháp luật của Nước cử.

Việc từ bỏ các quyền ưu đãi và miễn trừ

Đối với 1 thành viên cơ quan lãnh sự, Nước cử có thể từ bỏ bất kỳ quyền ưu đãi và miễn trừ nào theo quy định ở các Điều 41, 43 và 44.

Trong bất cứ trường hợp nào, việc từ bỏ cần phải rõ ràng, ngoại trừ quy định của khoản 3 Điều này và cần phải được thông báo bằng văn bản cho Nước tiếp nhận.

Khi 1 viên chức lãnh sự hoặc 1 nhân viên lãnh sự tiến hành khởi kiện về 1 vấn đề mà đối tượng đó có thể được hưởng quyền miễn trừ xét xử căn cứ theo Điều 43, thì người đó sẽ không được viện dẫn quyền miễn trừ xét xử nữa khi có sự phản kiện liên quan trực tiếp tới vụ kiện đó.

Việc từ bỏ quyền miễn trừ xét xử về 1 vụ kiện dân sự hoặc hành chính không được coi như có cả việc bỏ quyền miễn trừ đối với những biện pháp thi hành án; về việc này, cần có sự từ bỏ riêng.

Miễn đăng ký ngoại kiều và giấy phép cư trú

Viên chức lãnh sự, nhân viên lãnh sự và các thành viên gia đình họ cùng sống trong hộ được miễn toàn bộ nghĩa vụ theo luật và những quy định của Nước tiếp nhận đối với việc đăng ký ngoại kiều cũng như giấy phép cư trú.

Tuy nhiên, các quy định trong khoản 1 của Điều này không áp dụng đối với bất kỳ nhân viên nào không thuộc biên chế chính thức của Nước cử hay có hoạt động cá nhân sinh lợi ở Nước tiếp nhận hoặc đối với bất cứ thành viên gia đình nào của nhân viên đó.

Miễn giấy phép lao động

Đối với những công việc phục vụ cho Nước cử, các thành viên cơ quan lãnh sự được miễn toàn bộ nghĩa vụ về giấy phép lao động mà luật cũng như quy định của Nước tiếp nhận đặt ra với việc sử dụng lao động nước ngoài.

Nhân viên phục vụ riêng của viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự, trong trường hợp không có hoạt động cá nhân sinh lợi khác tại Nước tiếp nhận, thì sẽ được miễn các nghĩa vụ nói trong khoản 1 Điều này.

Miễn bảo hiểm xã hội

Ngoại trừ những quy định tại khoản 3 của Điều này, thành viên các cơ quan lãnh sự với những việc phục vụ cho Nước cử – và các thành viên gia đình họ cùng sống trong 1 hộ, được miễn những quy định về BHXH có thể đang có hiệu lực trong Nước tiếp nhận.

Việc miễn trừ quy định trong khoản 1 của Điều này cũng áp dụng cho các nhân viên phục vụ riêng chỉ giúp việc cho những thành viên cơ quan lãnh sự, với điều kiện:

  • Họ không phải là công dân của quốc gia tiếp nhận hay không thường trú ở đó; 
  • Họ đang tuân thủ những quy định về BHXH hiện hành ở Nước cử hoặc ở 1 Nước thứ ba.

Các thành viên cơ quan lãnh sự có thuê những người không được quyền miễn trừ theo khoản 2 Điều này, cần phải tuân thủ các nghĩa vụ mà những quy định về bảo hiểm xã hội ở Nước tiếp nhận đặt ra với đối tượng thuê lao động.

Việc miễn trừ quy định trong các khoản 1 và 2 Điều này sẽ không được quyền loại trừ việc tự nguyện tham gia vào chế độ bảo hiểm xã hội của Nước tiếp nhận, với điều kiện là việc tham gia ấy được Nước tiếp nhận cho phép.

Miễn thuế

Những viên chức lãnh sự, nhân viên lãnh sự cũng như những thành viên gia đình họ cùng sống trong 1 hộ được miễn mọi thứ thuế & lệ phí về nhân thân hoặc tài sản do nhà nước, địa phương hay thành phố thu, trừ:

  • Thuế gián thu thuộc loại thường được gộp vào mức giá hàng hoá hoặc dịch vụ:
  • Thuế và lệ phí đánh vào bất động sản của tư nhân ở trên lãnh thổ Nước tiếp nhận, ngoại trừ những quy định ở Điều 32;
  • Thuế do quốc gia tiếp nhận đánh vào tài sản thừa kế, việc thừa kế cũng như việc chuyển nhượng tài sản, ngoại trừ các quy định ở khoản (b) Điều 51;
  • Thuế và lệ phí đánh vào thu nhập cá nhân, gồm khoản thu nhập từ vốn đầu tư có nguồn gốc ở quốc gia tiếp nhận và thuế đánh vào khoản vốn đầu tư trong các hoạt động thương mại hay tài chính ở Nước tiếp nhận;
  • Khoản thu đối với các dịch vụ riêng biệt;
  • Lệ phí đăng ký, lệ phí toà án hay hồ sơ, lệ phí thế chấp và khoản tiền tem ngoại trừ những quy định của Điều 32.

Những nhân viên phục vụ được miễn thuế và lệ phí đánh vào khoản tiền công phục vụ của họ.

Thành viên cơ quan lãnh sự có thuê người làm mà khoản tiền lương hay tiền công của họ không được quyền miễn thuế thu nhập ở Nước tiếp nhận, khi đó thành viên đó cần phải tuân thủ các nghĩa vụ do luật và quy định của quốc gia tiếp nhận đặt ra đối với đối tượng thuê lao động liên quan tới việc thu thuế thu nhập.

Miễn thuế quan và miễn kiểm tra hải quan

Theo đúng luật và những quy định mà mình có thể đặt ra, quốc gia tiếp nhận cho phép nhập và miễn trừ tất cả các loại thuế quan và khoản lệ phí có liên quan, ngoại trừ phí bảo quản, cước vận chuyển cũng như phí thu về những việc phục vụ tương tự, đối với:

  • Những đồ dùng chính thức của cơ quan lãnh sự;
  • Các vật dụng cá nhân của viên chức lãnh sự hay của các thành viên gia đình cùng sống trong 1 hộ đối với viên chức lãnh sự, kể cả các vật dụng để tạo lập chỗ ở của đối tượng đó. Những vật phẩm để tiêu dùng không được vượt quá số lượng cần thiết cho việc sử dụng tiếp của những đối tượng này.

Toàn bộ nhân viên lãnh sự được hưởng những quyền ưu đãi và quyền miễn thuế quy định trong khoản 1 của Điều này đối với các đồ dùng nhập khẩu để có thể tạo lập nơi ở lần đầu.

Hành lý cá nhân đem theo của viên chức lãnh sự và của những thành viên gia đình cùng sống trong 1 hộ, được miễn việc kiểm tra hải quan. Chỉ có thể kiểm tra hành lý đó khi có lý do chính đáng để có thể tin rằng bên trong có chứa những đồ vật khác với những đồ vật nói trong mục (b) khoản 1 của Điều này, hoặc các đồ vật mà luật và quy định của quốc gia tiếp nhận cấm nhập hoặc xuất khẩu hay các đồ vật cần phải tuân theo luật quy định về phòng chống dịch. Việc kiểm tra đó cần phải được tiến hành dưới sự có mặt của viên chức lãnh sự hoặc của thành viên gia đình viên chức lãnh sự đó.

Di sản của một thành viên cơ quan lãnh sự hoặc 1 thành viên gia đình người đó

Trong trường hợp một thành viên cơ quan lãnh sự hay 1 thành viên gia đình cùng sống trong 1 hộ với người đó chết, quốc gia tiếp nhận:

  • Cho phép xuất khẩu động sản của người chết, trừ những tài sản có được ở Nước tiếp nhận mà bị cấm xuất khẩu vào đúng thời điểm người đó chết;
  • Sẽ không thu những khoản thuế về di sản, thừa kế cũng như chuyển nhượng do Nhà nước, địa phương hay thành phố đánh vào những động sản sở dĩ có ở Nước tiếp nhận là bởi có sự có mặt của người chết ở nước đó với tư cách là 1 thành viên cơ quan lãnh sự hay là thành viên gia đình của 1 thành viên cơ quan lãnh sự.

Miễn phục vụ và đóng góp cá nhân

Quốc gia tiếp nhận miễn cho những thành viên cơ quan lãnh sự và các thành viên gia đình cùng sống trong 1 hộ với họ mọi đóng góp cá nhân cũng như phục vụ công cộng dưới các hình thức và những nghĩa vụ đối với quân đội như trưng dụng, đóng góp trong lĩnh vực quân sự và cho đóng quân trong nhà mình

Các hoạt động ngoại giao của viên chức lãnh sự

Việc hoạt động ngoại gia của Viên chức lãnh sự đã được quy định cụ thể tại Điều 17 của Công ước viên về quan hệ lãnh sự năm 1963, cụ thể như sau:

Điều 17: Việc hoạt động ngoại giao của viên chức lãnh sự

(i) Trong một nước mà Nước cử không có cơ quan đại diện ngoại giao và cũng không uỷ nhiệm một cơ quan đại diện ngoại giao của một nước thứ ba làm đại diện, thì với sự đồng ý Nước tiếp nhận và không ảnh hưởng đến quy chế lãnh sự của mình, một viên chức lãnh sự có thể được phép hoạt động ngoại giao. Việc viên chức lãnh sự thực hiện những hoạt động như vậy không tạo cho người đó bất kỳ cơ sở nào để đòi hỏi các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.

(ii) Sau khi đã gửi thông báo cho Nước tiếp nhận, một viên chức lãnh sự có thể hoạt động với tư cách đại diện cho Nước cử tại bất kỳ tổ chức liên Chính phủ nào. Khi hoạt động như vậy, người đó được hưởng mọi quyền ưu đãi và miễn trừ mà luật tập quán quốc tế hoặc các điều ước quốc tế dành cho một người đại diện như thế. Tuy nhiên, khi thực hiện chức năng lãnh sự, người đó không được hưởng quyền miễn trừ xét xử lớn hơn quyền miễn trừ xét xử mà một viên chức lãnh sự được hưởng theo Công ước này.

Như vậy nếu trong 1 nước mà nước cử không có những cơ quan đại diện ngoại giao và cũng không được ủy nhiệm cho bất cứ một cơ quan đại diện ngoại giao nào của 1 nước thứ ba làm đại diện, dưới sự đồng ý của nước tiếp nhận và không ảnh hưởng tới các quy chế lãnh sự của mình, 1 viên chức lãnh sự có thể được phép thực hiện những hoạt động ngoại giao. Việc viên chức lãnh sự khi thực hiện những hoạt động ngoại giao như vậy không giúp cho viên chức lãnh sự đó bất cứ cơ sở nào để đòi hỏi những quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.

Các quyền của viên chức lãnh sự

Quyền miễn trừ xét xử: Các viên chức lãnh sự không chịu sự xét xử của nhà nước chức trách tư pháp hay hành chính của Nước tiếp nhận về những hành vi thực hiện khi thi hành chức năng lãnh sự, ngoại trừ một số vụ kiện dân sự như sau:

  • Xảy ra vì 1 hợp đồng do một viên chức lãnh sự ký kết mà không cần phải là rõ ràng hay hàm ý đứng trên danh nghĩa 1 người được ủy quyền của Nước cử để ký kết;
  • Do 1 bên thứ ba tiến hành về thiệt hại do 1 bên tai nạn xe cộ, tàu thủy hay tàu bay xảy ra tại Nước tiếp nhận.

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ: Các cơ quan yêu cầu viên chức lãnh sự cung cấp chứng cứ cần phải tránh làm trở ngại việc thi hành chức năng của đối tượng đó. Nếu như được, có thể lấy lời khai ở nhà riêng hoặc tại cơ quan lãnh sự hay nhận một bản khai viết của viên chức lãnh sự. Trong trường hợp một viên chức lãnh sự từ chối cung cấp chứng cứ, lúc này không được áp dụng biện pháp cưỡng chế hay hình phạt đối với người đó.

Những viên chức lãnh sự và các thành viên gia đình họ cùng sống chung trong một hộ được miễn mọi thứ thuế và mức lệ phí về nhân thân hoặc tài sản do nhà nước, địa phương hay thành phố thu, trừ:

  • Thuế gián thu thuộc loại thường được gộp chung vào giá hàng hoá hay dịch vụ:
  • Thuế và lệ phí đánh vào bất động sản của các tư nhân trên lãnh thổ Nước tiếp nhận;
  • Thuế do Nước tiếp nhận đánh vào tài sản thừa kế, việc thừa kế cũng như việc chuyển nhượng tài sản;
  • Thuế và lệ phí đánh vào thu nhập cá nhân, gồm khoản thu nhập từ vốn đầu tư có nguồn gốc ở Nước tiếp nhận cũng như thuế đánh vào khoản vốn đầu tư trong các hoạt động thương mại hoặc tài chính ở quốc gia tiếp nhận;
  • Khoản thu đối với các dịch vụ riêng biệt;
  • Lệ phí đăng ký, lệ phí của tòa án hoặc hồ sơ, lệ phí thế chấp và tiền tem;

Miễn thuế quan và miễn kiểm tra hải quan: Căn cứ theo đúng luật và những quy định mà mình có thể đặt ra, quốc gia tiếp nhận cho phép nhập và miễn trừ tất cả các loại thuế quan và mức lệ phí có liên quan, ngoại trừ phí bảo quản, cước vận chuyển và phí thu về những việc phục vụ tương tự, đối với các trường hợp:

  • Các vật dụng cá nhân của các viên chức lãnh sự hoặc của các thành viên gia đình cùng sống chung trong một hộ với viên chức lãnh sự, kể cả các vật dụng để tạo lập chỗ ở của người đó. Các vật phẩm để tiêu dùng không được vượt quá số lượng cần thiết cho vấn đề sử dụng tiếp của những người này;
  • Hành lý cá nhân mang theo của các viên chức lãnh sự và của thành viên gia đình cùng sống chung trong một hộ, được miễn việc kiểm tra hải quan. Chỉ có thể kiểm tra hành lý đó nếu như có lý do chính đáng để tin rằng bên trong có chứa các đồ vật khác với các đồ vật nói ở mục (b) khoản 1 của Điều này, hoặc các đồ vật mà luật và quy định của Nước tiếp nhận cấm nhập hay xuất khẩu hoặc các đồ vật cần phải tuân theo luật quy định về phòng dịch. Đối với, việc kiểm tra này cần phải được tiến hành với sự có mặt của các viên chức lãnh sự hay của thành viên gia đình viên chức lãnh sự đó.

Với những chia sẻ của Luật Hùng Sơn ở bài viết trên đây, chắc hẳn các bạn biết viên chức lãnh sự là gì? Quy định về viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự ra sao? Nếu còn thắc mắc về bất cứ điều gì liên quan tới viên chức lãnh sự, hãy gọi ngay qua hotline 19006518 để được giải đáp nhanh chóng nhé!

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn