logo

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Luật sư Luyện Ngọc Hùng |
  • 16-09-2023 |
  • Tin tức , |
  • 342 Lượt xem

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trường hợp thường xuyên xảy ra trong các quan hệ dân sự. Sau đây Luật Hùng Sơn xin giới thiệu một số quy đinh pháp luật liên quan đến nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đến Quý người đọc.

Quảng cáo

Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thường không bị phát sinh từ quan hệ hợp đồng đã ký kết;

Người có hành vi vi phạm quy định pháp luật xâm phạm đến các vấn đề như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác và gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Có các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

– Có thiệt hại xảy ra

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

– Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Các căn cứ trên được quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự:

– Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan quy định khác.

– Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

– Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm các nguyên tắc như sau:

– Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

– Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Quảng cáo

– Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

– Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

(Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015)

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

– Người từ đủ 18 tuổi trở lên khi gây thiệt hại thì phải tự bồi thường thiệt hại.

– Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải thực hiện bồi thường toàn bộ thiệt hại do người đó gây ra;

(Theo Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015)

Trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường khi con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu (trừ trường hợp quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015).

– Khi người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; trường hợp người đó không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ người đó phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

– Khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ được phép dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại;

Trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Trường hợp bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

– Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người;

– Nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

(Căn cứ theo Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015)

Trên đây là thông tin sơ bộ về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Luật Hùng Sơn. Trường hợp Quý bạn đọc cần tư vấn pháp lý có thể liên hệ đến số hotline 1900 6518 của Luật Hùng Sơn để được tư vấn chi tiết.

Vui lòng đánh giá!
Luật sư Luyện Ngọc Hùng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn