Lẽ công bằng là gì? Điều kiện để áp dụng lẽ công bằng trong luật tố tụng Việt Nam

  • Ls. Nguyễn Minh Hải |
  • 23-11-2021 |
  • Tin tức , |
  • 30 Lượt xem

Lẽ công bằng là gì? Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự trong luật tố tụng Việt Nam ra sao?  Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng lẽ công bằng như thế nào? Đây chắc hẳn là những câu hỏi được nhiều người quan tâm tới. Để lý giải điều này, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây!

Lẽ công bằng là gì?

Lẽ công bằng được hiểu là sự bình đẳng. Cho đến thời điểm hiện tại, cho dù cuộc tranh luận về luật pháp và lẽ công bằng vẫn chưa có hồi kết, tuy nhiên có một thực tế đó là quan niệm về lẽ công bằng đã được rất nhiều quốc gia nhìn nhận và áp dụng trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân.

“Lẽ công bằng” có nguồn gốc từ chữ equitas trong tiếng La tinh tức là sự bình đẳng. Tuy nhiên khi trở thành tiếng Pháp (équité) và tiếng Anh (equity) thì nó lại mang ý nghĩa là Lẽ công bằng.

Tương tự như vấn đề nguồn gốc của luật pháp, ý niệm về Lẽ công bằng đã được rất nhiều nhà triết gia, học giả trên thế giới nhắc tới từ rất sớm. Cho đến nay nó vẫn còn tồn tại qua nhiều quan điểm khác nhau về Lẽ công bằng.

Trong tác phẩm “Nền luân lý lớn” Aristote cho hay: “Lẽ công bằng là một nền công lý tốt hơn, nó sửa sai nền công lý bằng pháp luật trong trường hợp đặc biệt, khi nền công lý bằng pháp luật này dẫn đến những kết quả bất công vì những câu chữ tổng quát của một đạo luật không dự liệu tất cả”.

Do đó, Lẽ công bằng theo quan niệm của Aristote có ý nghĩa gần với các nguyên lý của Luật tự nhiên. Sự tồn tại của nó ngoài hệ thống pháp luật thành văn là khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật này (bởi tính cách tổng quát của nó) không thể nào thực hiện được.

Ví dụ, pháp luật thành văn quy định, trộm cắp chính là hành vi tội phạm thì quy định này bao giờ cũng mang tính cách tổng quát. Nó sẽ được áp dụng chung cho bất cứ ai thực hiện hành vi trộm cắp mà không cần phân biệt tình huống nào là trộm cắp với ý chí gian xảo, tình huống nào trộm cắp là do sự bần cùng, đói khát của con người. Bởi vậy, ý niệm về Lẽ công bằng phải được áp dụng để khắc phục các sai lầm do tính chất tổng quát đó của luật pháp.

lẽ công bằng là gì

Điều kiện áp dụng lẽ công bằng trong luật tố tụng Việt Nam

Lẽ công bằng được biết tới là một quy định của pháp luật. Mặc dù vậy, các yếu tố cấu thành lẽ công bằng lại không được pháp luật quy định cụ thể bao gồm những gì. Tuy nhiên lẽ công bằng là một chuẩn mực pháp lý được biểu hiện trong các quan hệ xã hội đồng thời thể hiện rõ phương thức pháp lý trong việc áp dụng. Thông qua cơ sở lý luận này, cách thức áp dụng lẽ công bằng để tiến hành giải quyết tranh chấp dân sự cần được xác định theo các điều kiện sau đây:

  • Các tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự đang được xem xét giải quyết (Quan hệ về tài sản có tính chất hàng hoá – tiền tệ và quan hệ nhân thân phi tài sản);
  • Những bên tranh chấp không có thoả thuận hay không thoả thuận được, pháp luật hoàn toàn không có quy định, không có tập quán, không quy định trong việc áp dụng tương tự, không có án lệ. Khi đó, thẩm quyền áp dụng lẽ công bằng sẽ thuộc toà án nhân dân các cấp.
  • Áp dụng lẽ công bằng dựa vào từng tranh chấp riêng biệt, kể cả những tranh chấp cùng loại thì quá trình áp dụng lẽ công bằng cũng không như nhau. Việc áp dụng lẽ công bằng hết sức cần thiết và quan trọng là việc xác định chủ thể thuộc những bên tranh chấp nào, quy mô về tài sản của tranh chấp và tính thực tế, khách quan của sự kiện phát sinh, có tính đến những người yếu thế và có tính phức tạp,… là những tranh chấp cần phải giải quyết sao cho phù hợp với đạo lý thông thường.

Lưu ý: Khi áp dụng lẽ công bằng không nhìn nhận vấn đề này pháp luật đã quy định rồi nên việc áp dụng lẽ công bằng có thật sự cần thiết hay không? Theo quy định của pháp luật, còn rất nhiều quan hệ chứa đựng và phát sinh khách quan trong nhóm quan hệ cụ thể. Hơn nữa, quy định hiện có cũng không thể điều chỉnh sao cho thỏa đáng. Vì vậy lẽ công bằng vẫn có thể được áp dụng. 

Ngoài ra, mục đích của pháp luật là bảo đảm công bằng. Do đó, trong quan hệ pháp luật dân sự để giải quyết được tranh chấp triệt để, đảm bảo nguyên tắc công bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể thì lẽ công bằng vẫn có thể được áp dụng. Mục đích của công việc này là để khắc phục khoảng trống của pháp luật hay pháp luật không điều chỉnh hết được những tranh chấp đang phát sinh.

Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự

Theo quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được áp dụng cho tất cả các cấp tòa án nhân dân.

Trước tiên, lẽ công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự cần phải được hiểu theo một trình tự và thủ thục tố tụng dân sự. Với mục đích bảo đảm cho việc xem xét công khai, công bằng trong việc tố tụng không có các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như áp đặt, gợi ý hay có sự “gửi gắm trước”, làm sai lệch bản chất của các tranh chấp dân sự đang cần được giải quyết. Trong đó, sự thiên lệch có thể đến từ hội đồng xét xử, bào chữa viên, giám sát xét xử,  luật sư. Bên cạnh đó, sự không công bằng còn có khi phân biệt đương sự có lợi ích đối lập nhau hay vì đương sự này có mối quan hệ nào đó đối với người thứ ba hay với một hoặc toàn bộ thành viên ở trong hội đồng xét xử.

Thứ hai, sự thiếu công bằng còn có thể liên quan tới nội dung của vụ việc đang tranh chấp mà việc xác minh, nhận định cũng như đánh giá các chứng cứ chưa đầy đủ, thiếu sự khách quan và làm sai lệch đi bản chất của tranh chấp.

Thứ ba, sự thiếu công bằng có thể là do vi phạm nguyên tắc tranh tụng công khai ở phiên tòa. Theo đó, phiên tòa công khai luôn bảo đảm sự khách quan và tính minh bạch đến từ các thủ tục tố tụng. Đó cũng là căn cứ để bảo vệ thích đáng các quyền và lợi ích hợp pháp của những bên tham gia tố tụng, đặc biệt là các bên có những lợi ích mâu thuẫn nhau.

Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự được biết tới là một việc phức tạp và  vô cùng khó khăn đối với cơ quan xét xử. Vì vậy, các bạn cần phải dự liệu trước các yếu tố ảnh hưởng đến lẽ công bằng. Cụ thể như: tính chất của các tranh chấp, nhân tố con người, nhất là thành viên Hội đồng giải quyết vụ việc. Trong đó, tính cẩn trọng, trình độ, kỹ năng, lương tâm và trách nhiệm của thành viên hội đồng xét xử quyết định lớn tới việc áp dụng lẽ công bằng có hiệu quả hay không.

Qua phân tích trên, các bạn có thể định nghĩa áp dụng lẽ công bằng để giải quyết các tranh chấp về dân sự như sau: 

Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong trường hợp xem xét, giải quyết tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự mà các bên trong quan hệ không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định hoặc có quy định nhưng quy định hiện có không thể điều chỉnh hết quan hệ đang được xem xét, giải quyết mà không có tập quán được áp dụng, không có quy định để áp dụng tương tự về luật và không có án lệ để áp dụng thì áp dụng lẽ công bằng.

Bất cập trong áp dụng lẽ công bằng

Như các bạn đã biết, áp dụng lẽ công bằng chính là áp dụng quy định của pháp luật về lẽ công bằng. Tuy nhiên quy định về lẽ công bằng không thể hiện rõ nội hàm đã được khái quát trong quy định của pháp luật. Do đó, khi áp dụng lẽ công bằng cần phải xem xét tới những yếu tố có liên quan đến phạm vi tranh chấp, đặc điểm của các tranh chấp, những bên chủ thể của tranh chấp và các bên có liên quan.

Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp cần tuân thủ theo nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng về mặt pháp lý của các bên chủ thể. Theo đó, quyền bình đẳng của các bên chủ thể trong những tranh chấp cần được xác định dựa vào tiêu chí lẽ công bằng. Do đó, các bạn cần xác định những yếu tố tác động, ảnh hưởng việc xác định lẽ công bằng như sau:

  • Xác định rõ điều kiện, hoàn cảnh về thời gian và không gian mà các bên chủ thể xác lập quan hệ hay những sự kiện phát sinh do ý chí chủ quan của 1 bên hoặc cả 2 bên trong một mối quan hệ pháp luật cụ thể về tài sản hay về nhân thân. Khi đó, bạn sẽ có cơ sở xác định mối quan hệ phổ biến, các quan hệ nhân quả của sự kiện phát sinh và hậu quả pháp lý có thể xảy ra. Yếu tố ý chí của những bên chủ thể cần phải xác định rõ ràng xem ý chí chủ quan hay hoàn cảnh khách quan ngoài ý chí của chủ thể. Từ đó chủ thể sẽ biết được các sự kiện pháp lý phát sinh theo ý muốn hoặc ngoài ý muốn để có căn cứ áp dụng lẽ công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của một bên hay lợi ích của người thứ ba.
  • Xác định cụ thể những nguyên nhân khách quan dẫn tới quyền, lợi ích hợp pháp của 1 bên trong quan hệ pháp luật dân sự bị thiệt thòi. Trong đó, nguyên nhân khách quan có thể là hành vi của người thứ ba hay do sự biến pháp lý tuyệt đối cụ thể hay tương đối mà hậu quả của nó xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng hoặc đáng lẽ có được nhưng bị mất mát, bị giảm sút không chính đáng.
  • Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết các tranh chấp về tài sản và nhân thân, cần phải xác định mức độ nhận thức của chủ thể là do điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội chi phối hay do năng lực nhận thức của cá nhân dẫn tới những tranh chấp dân sự.
  • Năng lực của thẩm phán áp dụng lẽ công bằng để có thể giải quyết tranh chấp dân sự là những người có năng lực nhận thức và có nhiều kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh kiến thức về chuyên môn pháp luật là bắt buộc đối với các thẩm phán.
  • Xác định các yếu tố là nguyên nhân dẫn đến quyền và lợi ích của một bên bị thiệt hại hay lợi ích của người thứ ba bị xâm phạm trong trường hợp những lợi ích vật chất hoặc phi vật chất của các chủ thể được bảo đảm thực hiện nhưng lại bị mất đi không chính đáng, lỗi không phải do chủ thể.

Nội dung bài viết này đã giúp các bạn hiểu rõ hơn lẽ công bằng là gì? Áp dụng lẽ công bằng như thế nào trong các tranh chấp dân sự. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết về lẽ công bằng nói riêng và luật pháp nói chung, đừng bỏ lỡ những bài viết tiếp theo của Luật Hùng Sơn nhé!

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

To-top
Developed by Luathungson.vn
Facebook Messenger
Chat qua Zalo
Tổng đài 19006518
Developed by Luathungson.vn