logo

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có gọi là ly hôn không?

Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện nay thì quan hệ tài sản chung trong hôn nhân của vợ chồng tồn tại cho đến khi quan hệ tài vợ chồng chính thức chấm dứt. Tuy nhiên trong một số trường hợp, do không thỏa thuận được về việc quản lý tài sản chung ấy như thế nào, mâu thuẫn khi quyết định sử dụng tài sản chung ấy nên sẽ dẫn đến quyết định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và câu hỏi được đặt ra là việc chia tài sản chung ấy sẽ tiến hành như thế nào, liệu sau khi chia có phải giống với ly hôn không? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu qua các thông tin dưới đây.

1. Căn cứ pháp lý nêu rõ vấn đề trên:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 38 đến Điều 42).

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?

Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định rằng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng được quyền thỏa thuận chia tài sản chung của mình, có thể chia tài sản chung ấy một phần hoặc toàn bộ tài sản chung ấy. Và nếu không thỏa thuận được việc sẽ chia tài sản chung như thế nào mới đáp ứng được yêu cầu của mỗi bên thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

chia tài sản chung

3. Các trường hợp của việc chia tài sản.

– Khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng việc thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản và văn bản này phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Đối với tài sản chung là tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì chỉ cần có văn bản có công chứng. Đối với tài sản đăng lý quyền sở hữu thì phải có văn bản có công chứng và thực hiện các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

– Khoản 3 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nếu vợ, chồng không tự thỏa thuận được việc chia tài sản chung có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ giải quyết việc chia tài sản chung sẽ theo quy định của Điều 59 của Luật này.

4. Thời điểm có hiệu lực của việc vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thời điểm có hiệu lực:

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

  1. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
  2. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

5. Hậu quả của việc vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Việc làm cho một khối tài sản chung thành tài sản riêng của vợ, chồng thì sẽ làm thay đổi và phát sinh những quyền và nghĩa vụ khác đối với tài sản ấy. Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể về những hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

– Trong trường hợp đã được chia tài sản chung thì tài sản đã được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ chính tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng sau khi chia sẽ là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác. Và sau khi đã chia tài sản chung, thì phần tài sản còn lại không được chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

–  Việc thỏa thuận chia tài sản chung này không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ trước khi chia tài sản chung đã được xác lập với người thứ ba.

6. Trường hợp bị vô hiệu khi chia tài sản chung.

Điều 42 quy định rất cụ thể về các trường hợp sẽ bị coi là vô hiệu khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

  1. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
  2. a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
  3. b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
  4. c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
  5. d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Kết luận: Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không có nghĩa là ly hôn và quan hệ vợ chồng giữa họ chấm dứt mà chỉ có nghĩa là tài sản chung ấy sau khi chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Việc chia tài sản chung do không thỏa thuận được có quyền yêu cầu Tòa án chia, và việc chia tài sản chung ấy tất yếu sẽ thay đổi và phát sinh một số nghĩa vụ và quyền cụ thể giữa vợ chồng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin mới

Các tin khác

Video tư vấn pháp luật

Hotline
Top
Developed by Tiepthitute
Facebook Messenger
Chat với chúng tôi qua Zalo
Developed by Tiepthitute